Hồi 119. Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, do Phan Kế Bính dịch, Bùi Kỷ hiệu đính. Hồi 120. các dự án wiki khác: mục Wikidata. Tiến Đỗ Dự, lão tướng dâng mẹo hay; Bắt Tôn Hạo, tam phân lại hợp nhất. Lại nói Ngô chủ là Tôn Hưu nghe tin Tư Mã Viêm đã cướp ngôi nhà Chuyên Mục. Tâm lý / Tính cách 371. Định hướng 83. Ngôn ngữ 0. IQ / Câu đố 239. Du lịch / Khám phá 468. Âm nhạc 150. Truyện tranh / Hoạt hình 1309. Sao / Showbiz 724. Tuổi Ngây Thơ - The Age of Innocence Vietsub - HD - Martin Scorsese không chỉ là một đạo diễn, nhà biên kịch tài ba mà ông còn là một người đàn ông tuyệt vời. Ngay từ khi còn nhỏ Martin đã bộc lộ niềm yêu thích với điện ảnh, đặc biệt là với các tác phẩm của Chủ nghĩa hiện thực mới và sự tỉ mỉ và cẩn VĂN THƠ NHẠC Thứ Ba, 18 tháng 10, 2022. Tân hình thức và hiệu ứng cánh bướm Tân hình thức. và hiệu ứng cánh bướm. Trên đây là các bài văn mẫu Phân tích bút pháp và cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng do cungdaythang.com sưu tầm và tổng hợp được, mong rằng với nội dung tham khảo này thì các em sẽ có thể hoàn thiện bài văn của mình tốt nhất! Đăng bởi: cungdaythang.com 6 Thần tích thời Tam Quốc: Trương Phi hét sập cầu Trường Bản, Lưu Bị nhảy qua suối Đàn Khê; 7 sự kiện thương tâm nhất thời Tam Quốc khiến người đời cảm thán không thôi; 3 anh hùng lưu danh sử sách trong ‘Tam Quốc Diễn Nghĩa’ đều chỉ nhờ một chữ này fbER. Lịch sử Trung Quốc đã từng xuất hiện rất nhiều thời loạn thế, chẳng hạn như Xuân Thu Chiến Quốc, Hán Sở tranh hùng, Tam Quốc, Nam Bắc triều, Ngũ Đại thập Quốc… nhưng nếu nói về độ nổi tiếng và phổ biến nhất, các nhân vật được biết tới nhiều nhất thì không có thời đại nào có thể vượt qua Tam Quốc. Sở dĩ có điều đó là do thành công và ấn tượng mà cuốn tiểu thuyết "Tam Quốc diễn nghĩa" đem lại cho hậu thế. Tiểu thuyết này là ví dụ tuyệt vời cho mối tương tác hết sức phức tạp giữa chính sử, dã sử, văn học viết hư cấu, văn chương dân gian và sinh hoạt văn hoá bình dân diễn ra trong một truyền thống văn hoá lớn - truyền thống Trung Hoa kéo dài qua bao thời đại. Người Trung Hoa ví các tác phẩm văn chương bất hủ như "mặt trăng mặt trời trường tồn cùng sông núi", Tam Quốc Diễn Nghĩa có thể nói chính là "Nhật nguyệt treo cao" trong kho tàng văn học Trung tưởng ủng Lưu phản TàoBa anh em nhà Lưu Bị, tranh lụa của Sekkan Sakurai 1715-1790, The Field MuseumTam quốc diễn nghĩa được xếp là 1 trong "Tứ đại danh tác" của Trung Hoa. Tác giả La Quán Trung đã nói rõ chủ đề ngay từ tên tác phẩm ông dùng lịch sử của ba quốc gia thời Tam quốc để diễn giải về “nghĩa” tư tưởng chính nghĩa của con người, lấy đó làm chủ đề chính. Tam quốc diễn nghĩa bao hàm ý nghĩa cao siêu của tiêu chuẩn đạo đức, luân lý truyền thống Trung Hoa, ngoài ra còn có đạo lý “Nhân quả báo ứng”, “Thuận theo tự nhiên”, “Người tính không bằng trời tính”. Tác phẩm không chỉ là tiểu thuyết đơn thuần, mà còn ẩn chứa những bài học răn dạy về đạo đức, những tấm gương được mọi người tôn kính thông qua những câu chuyện lịch sử. Bởi vì nắm chắc được điểm này cho nên Tam quốc diễn nghĩa mới có thể “trường thịnh không suy”, đi sâu vào lòng người đọc suốt nhiều thời đại như vậy, không chỉ ở Trung Quốc và cả ở Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam... Tam quốc diễn nghĩa là câu chuyện gần một trăm năm, sự việc nhiều nhưng không rối, đó là do ngòi bút có khuynh hướng rõ ràng của La Quán Trung. Tác giả đứng về phía Thục Hán, lên án Tào Ngụy, còn Tôn Ngô chỉ là lực lượng trung gian. Những nhân vật của Thục Hán như hoàng đế Lưu Bị với tư tưởng "trọng Nhân hòa, lấy dân làm gốc", gia đình thừa tướng Gia Cát Lượng suốt 3 đời phò tá triều đình với tấm lòng "cúc cung tận tụy, đến chết mới thôi", các đại tướng Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Vân, Khương Duy võ nghệ xuất chúng lại tận trung vì nước, bao phen xả thân để bảo vệ cơ nghiệp nhà Hán; Cam phu nhân chỉ là nữ nhi mà thấu hiểu đạo nghĩa, My phu nhân sẵn lòng hy sinh tính mạng để cứu dòng dõi Lưu Bị... Mỗi nhân vật chính của nhà Thục Hán đều được khắc họa với chính khí lẫm liệt, là những tấm gương về trung thần nghĩa sĩ, con hiếu thảo, vợ tiết trinh. Nhà Thục Hán là sự kết tinh nguyện vọng của quần chúng nhân dân về một vị vua xuất thân hàn vi, biết thấu hiểu nỗi khổ và yêu thương quý trọng nhân dân, một triều đình thực hiện "nhân chính", một xã hội giàu đạo đức với những tấm gương tôi trung vợ tiết, một đất nước thống nhất và hoà bình. Đặc biệt trong bối cảnh tác phẩm ra đời, khi nhà Nguyên của ngoại tộc Mông Cổ đang thống trị Trung Hoa, tư tưởng "ủng Lưu phản Tào" còn thể hiện khát vọng của nhân dân có một vị vua kế thừa dòng máu người Hán Lưu Bị là dòng dõi hoàng thất nhà Hán, đánh đuổi triều đình ngoại tộc để giành lại giang sơn cho dân tộc Hán một kiệt tác sân khấu ra đời trong cùng thời kỳ cũng mang tư tưởng này, đó là Con côi nhà họ Triệu.Tuy Tam quốc diễn nghĩa có một số tình tiết hư cấu về lịch sử, nhưng về nét chính, các bộ chính sử Trung Quốc cũng công nhận triều đình Thục Hán có rất nhiều nhân vật đáng khen ngợi vua nhà Thục Hán là Lưu Bị vốn có xuất thân hàn vi, thuở nhỏ phải đan dép cỏ kiếm sống nên rất thấu hiểu nỗi khổ của nhân dân, ông từ hai tay trắng gây dựng cơ đồ nhờ sự trợ giúp trung thành của các tướng sĩ, khi lên ngôi lại thi hành chính sách khoan hòa với nhân dân. Gia đình Thừa tướng Thục Hán là Gia Cát Lượng thì suốt 3 đời đều hết lòng tận tụy vì nước và rất liêm khiết, "trong nhà chẳng để thừa gấm vóc, bên ngoài không có điền sản dư dôi". Đại tướng Khương Duy là tổng chỉ huy quân đội cũng sống rất giản dị, "ăn uống rất mực tiết kiệm, trong nhà không có thiếp hầu, sau sân chẳng nghe thấy tiếng đàn hát". Danh tướng Triệu Vân không quản hiểm nguy một mình cứu ấu chúa trong trận Đương Dương - Trường Bản. Các cặp cha con Triệu Vân - Triệu Quảng, Gia Cát Chiêm - Gia Cát Thượng, Phó Đồng - Phó Thiêm thì "thụ mệnh lúc lâm nguy, cha con nối đời trung nghĩa" mà tráng liệt hy sinh. Những yếu tố đó rất gần gũi với hình mẫu một vị vua lý tưởng, một triều đình chân chính đối với nhân dân Trung Quốc thời phong kiến, nước Thục Hán mất rồi mà người dân địa phương đến cả nghìn năm sau vẫn còn hoài niệm và lập đền thờ. Do vậy, các câu chuyện dân gian về thời Tam Quốc có xu hướng ca ngợi Lưu Bị và nhà Thục Hán, căm ghét kẻ thù của ông là điều tất yếu, và xu hướng "ủng Lưu phản Tào" đã là tư tưởng chung của đại đa số nhân dân Trung Quốc từ trước cả khi tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa ra đời. Trong sách sử đời Bắc Tống đã có ghi lại một đoạn bút ký nói rằng “Những trẻ em trong xóm ngõ, thường xúm lại nghe kể truyện Tam Quốc, thấy nói đến Lưu Bị thua thì cau mày không vui, có em khóc. Thấy kể Tào Tháo bại trận thì khoái chí reo mừng". Bút ký ấy cho thấy ngay cả trước khi Tam Quốc chí diễn nghĩa của La Quán Trung ra đời, nhân dân Trung Quốc đã có xu hướng "ủng Lưu phản Tào", họ yêu mến Lưu Bị và căm ghét Tào Tháo. Chính sự kế thừa nguyên vẹn tư tưởng đó đã giúp tác phẩm được đông đảo nhân dân Trung Hoa đón nhận, họ như thấy được thái độ yêu - ghét của chính bản thân ở ngay trong tác phẩm là sự kết hợp giữa sáng tác tập thể của các nghệ sỹ dân gian với sáng tác riêng của nhà văn, mà phần cốt lõi là sáng tác truyền miệng được tích lũy qua nhiều thế hệ. Những tác phẩm truyền miệng là kết tinh của trí tuệ tập thể, thể hiện một cách rõ nét ý thức chính trị xã hội, ý thức đạo đức luân lý và ý thức thẩm mỹ của đa số quần chúng nhân dân, trải qua nhiều năm được La Quán Trung gọt giũa, đã đạt tới đỉnh cao nghệ thuật cũng như triết lý nhân sinh. Những phẩm chất tốt đẹp mà nhân dân ca ngợi như Trung hậu nhân từ; Hào phóng chính trực; Anh dũng ngoan cường; Đoàn kết tương trợ; Thông minh mưu trí; Quên mình vì nghĩa... được các nghệ sỹ dân gian tập trung vào nhân vật Lưu Bị và nhà Thục Hán. Mặt khác, các nghệ sỹ dân gian cũng đem những thói hư tật xấu mà nhân dân căm ghét như Hung ác tàn bạo; Nham hiểm gian trá; Tự tư giả đối, Hống hách ngang ngược; Hoang dâm vô độ... gán cho các nhân vật Tào Tháo, Đổng Trác, Viên Thiệu... Có thể nói một cách không khoa trương rằng "Tam quốc diễn nghĩa" là một kho báu về thế giới quan, nhân sinh quan, quan niệm giá trị và quan niệm thẩm mỹ của quần chúng nhân dân thời cổ Trung Quốc. Đây chính là nguyên nhân cơ bản, khiến "Tam quốc diễn nghĩa" được đông đảo quần chúng nhân dân ưa thích qua nhiều thế ngữ văn họcTam quốc diễn nghĩa là tiểu thuyết sử thi nên giọng điệu chủ yếu là ca ngợi hay châm biếm hài hước để phê phán. Tác phẩm khoa trương những chiến tích để ca ngợi các anh hùng hảo hán, cường điệu những khó khăn hiểm trở để thử thách tài năng võ nghệ của các anh hùng. Các nhân vật luôn có vóc dáng khác người, những hành động phi thường và tâm hồn họ cũng cao thượng hơn hẳn so với người thường. Có lẽ vì thế, có nhiều trận đánh ác liệt tử vong rất nhiều nhưng tác phẩm vẫn không gây không khí bi thảm. Truyện giống như một bản anh hùng ca về sự dũng cảm, mưu lược, tấm lòng nhân ái trung nghĩa của các vị anh hùng nhà Thục Hán, mà hậu thế khi đọc vẫn phải thấy cảm kích và thu nhận những bài học quý giá cho chính ngữ của Tam quốc diễn nghĩa là sự kết hợp giữa văn ngôn và bạch thoại, sử dụng được ngôn từ thông dụng trong nhân dân. Ngôn ngữ kể chuyện lấn át ngôn ngữ miêu tả, và trong ngôn ngữ miêu tả rất ít sử dụng định ngữ và tính từ. Người Trung Quốc gọi loại miêu tả ngắn gọn như vậy là lối bạch miêu, nhưng nhờ lối kể chuyện khéo léo, đối thoại sinh động và sử dụng rộng rãi khẩu ngữ, các truyện cổ tích, truyền thuyết, thần thoại, chuyện lịch sử,... nên đã tạo cho tác phẩm một vẻ đẹp hấp dẫn vừa bác học và dân ca ngợi trong dân gian3 anh em Lưu Bị, Quan Vũ và Trương Phi làm lễ kết nghĩa, một điển tích nổi tiếng trong Tam quốc diễn dân gian có rất nhiều tác phẩm thơ văn bắt nguồn từ những tích truyện nổi tiếng trong Tam Quốc Diễn tướng Thục Hán là Gia Cát Lượng được người dân Trung Quốc ca ngợi là "vạn đại quân sư" vì tài năng và lòng trung thành tuyệt vời, đền thờ ông tại thành Bạch Đế nổi tiếng nhất vẫn là tác phẩm của Đỗ Phủ đề tặngGia Cát danh thơm khắp hải hà,Tôn thần tượng ấy đủ cao chân đại đỉnh phân ranh giới,Một quạt kê mao đuổi giặc dựng bá vương tài Lã Vọng,Mở mang cơ nghiệp chí Tiêu HàNhững mong gánh vác phò vua Hán,Ngũ Trượng chưa yên mộng hải những thờ Quan Vũ tướng nhà Thục Hán có rất nhiều câu đối ca ngợi sự nghiệp và đức độ của ông. Những câu đối nổi tiếng nhất về Quan Vũ được ghi nhận là[17]Mặt đỏ lòng son, cưỡi Xích thố như gió, khi rong ruổi không quên vua Đỏ.[18]Đèn xanh xem sử xanh, nương thanh long yển nguyệt, chốn ẩn vi chẳng thẹn với trời xanhSinh ở Bồ châu, làm việc tại Dự châu cùng Lưu Bị, chiến Kinh châu, thủ Từ châu, trước giờ chỉ có duy nhất ở Thần châu[19]Anh là Huyền Đức, em là Dực Đức, bắt giữ Bàng Đức, tha Mạnh Đức[20], ngàn thu đức lớn không ai sánh bằngTướng Thục Hán là Triệu Vân với chiến tích một mình cứu chúa trong trận Đương Dương - Trường Bản thì được dân gian ca ngợi bằng bài thơMáu đỏ chan hòa áo giáp hồngĐương Dương ai kẻ dám tranh hùngXưa nay cứu chúa xông trăm trậnChỉ có Thường Sơn Triệu Tử LongNgay cả ở Việt Nam, dân gian đã có những câu thơ thể hiện tinh thần ca ngợi nhà Thục Hán trong truyện Tam quốc như sau[21]Truyện Tam quốc trực trần thật sựCoi với trong chánh chính sử không saiĐã lắm trang quỷ quyệt trí tàiLại nhiều kế tâm hoài nghĩa khíAi nhân từ bằng ông Lưu BịAi gian hùng như Ngụy Tào ManQuan công Hầu một tấm trung canLòa ngọn đuốc rỡ ràng gương nhật nguyệtTrương Dực Đức oanh oanh liệt liệtTính bình sanh chân thật trực tìnhNhà thơ Tản Đà của Việt Nam có bài thơ ca ngợi lòng tận trung báo quốc của Thừa tướng Gia Cát Lượng của nhà Thục HánLục xuất Kỳ Sơn Gia Cát LượngLòng trung chói sáng cõi nhân hoànBiểu xuất sư hoà lệ chứa chanXiết nghĩ giang sơn cùng ấu chúaThành bại, hưng vong, trời đã địnhTranh hùng cát cứ khả do nhân Giải tríNhạcLàng nhạc Thứ bảy, 31/7/2021, 1737 GMT+7 Trung QuốcVương Kiện - người viết lời cho nhiều bài hát trong "Tam Quốc diễn nghĩa" bản kinh điển 1994 - mất ở tuổi 93. Theo Beijingnews, bà mất vì bệnh tật, tuổi già. Lần cuối bà xuất hiện công khai là ở chương trình văn nghệ của đài CCTV năm 2020. Bấy giờ, ở tuổi 92, giọng bà to, rõ ràng, vẫn đọc chính xác ca từ của nhiều bài hát bà từng viết. Mao A Mẫn hát "Bầu trời lịch sử" - nhạc phim "Tam Quốc diễn nghĩa". Video Kiện sinh ở Bắc Kinh, sáng tác văn, thơ từ năm 1947. Từ năm 1954, bà làm việc ở Hiệp hội Nhạc sĩ Trung Quốc. Năm 1991, Vương Kiện gia nhập tổ Âm nhạc của đoàn phim Tam Quốc diễn nghĩa, đảm nhận viết lời. Bà viết ca từ cho chín bản nhạc, trong đó có Bầu trời lịch sử - ca khúc cuối tác phẩm hay Điêu Thuyền đã theo gió bay - bài vang lên ở một số đoạn về nhân vật Điêu Thuyền Trần Hồng đóng. Người hợp tác Vương Kiện, viết nhạc cho tác phẩm là Cốc Kiến Phân. Vương Kiện áo đen khi làm việc cùng Cốc Kiến Phân và khi ngoài 90 tuổi. Ảnh Bjnews. Vương Kiện, Cốc Kiến Phân được mệnh danh "cặp bài trùng" của làng nhạc, khi hợp tác viết lời và nhạc cho nhiều ca khúc kinh điển. Thời làm Tam Quốc diễn nghĩa, từng có người cho rằng "phụ nữ không thể viết nhạc cho phim về đàn ông". Song qua gần 30 năm, các bản nhạc trong tác phẩm truyền hình vẫn được đông đảo khán giả yêu thích. Lời bài hát được đánh giá đẹp, sâu sắc trong khi nhạc lúc hùng tráng khi da diết. Nhạc cuối phim "Tam Quốc diễn nghĩa". Video sáng tác ca từ, Vương Kiện xuất bản nhiều cuốn sách, phần lớn là tuyển tập tản văn. Năm 1994, bà ra mắt cuốn Tái dựng anh hùng, kể quá trình Tam Quốc diễn nghĩa từ nguyên tác văn học tới phim truyền hình. Bà phỏng vấn nhiều thành viên trong ê-kíp để thực hiện cuốn Anh theo Beijingnews Bạn đang quan tâm đến Những câu nói hay nhất trong tam quốc diễn nghĩa phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé! Tam Quốc diễn nghĩa của La Quán Trung là một trong tứ đại danh tác của Trung Quốc bên cạnh Thủy hử, Hồng lâu mộng và Tây du đang xem Thơ tam quốc diễn nghĩaBạn đang xem Tam Quốc diễn nghĩa của La Quán Trung là một trong tứ đại danh tác của Trung Quốc bên cạnh Thủy hử, Hồng lâu mộng và Tây du kí. Nội dung xuyên suốt chủ yếu của tác phẩm kinh điển này nói về cuộc đấu tranh giữa ba thế lực phong kiến bao gồm nhà Ngụy do Tào Tháo đứng đầu, nhà Thục do Lưu Bị đứng đầu và nhà Ngô do Tôn Quyền đứng đầu trong việc nhất thống thiên hạ. Tuy nhiên cái kết cuối cùng lại hết sức bất ngờ khi giang sơn lại rơi vào tay con cháu của Tư Mã Ý, vốn là một đại thần trong triều Ngụy. Tam quốc diễn nghĩa không chỉ đơn thuần là một tác phẩm văn học mang tính sử thi mà nó còn để lại những giá trị nhân văn đầy sâu sắc cho biết bao thế hệ người đọc trên toàn thế giới. Và chúng ta hãy cùng nhau xem lại 11 câu nói kinh điển của các nhân vật nổi tiếng trong bộ tiểu thuyết này nhé!1. “Nhân trung Lữ Bố, mã trung Xích Thố”Ý nghĩa của cậu nói này tức người thì phải được như Lữ Bố còn ngựa thì phải là ngựa Xích nói này không xuất phát từ một nhân vật nổi tiếng nào mà lại được lan truyền đi khắp thiên hạ, đủ để nói lên tài năng cũng như phẩm chất của Lữ Bố và ngựa Xích Bố được coi là anh hùng thiên hạ và không có đối thủ trong truyện Tam quốc. Với phương thiên họa kích trong tay, cưỡi ngựa Xích Thố vô địch, Lữ Ôn Hầu trở nên bất khả chiến bại. Tuy nhiên với bản tính hung hăng cùng sự kiêu ngạo của mình, cuối cùng Lữ Bố đã phải nhận cái chết thương tâm khi bị quân sĩ làm phản, bắt trói và giao cho Tào “Ngũ Thường họ Mã, Bạch Mi giỏi nhất”Lịch sử ghi chép rằng có năm người con trai nhà họ Mã vốn thông minh hơn người, tên tự lần lượt là Bá Thường, Trọng Thường, Thúc Thường, Quý Thường, Ấu Thường, nên gọi là Ngũ Thường. Chân mày của Mã Lương, tức là Quý Thường có màu trắng, nên người đời gọi là “Bạch Mi”, do đó mới có câu “Ngũ Thường họ mã, Bạch Mi giỏi nhất”. Trong năm anh em, người được nhiều người biết đến nhất chỉ có hai anh em Mã Lương và Mã Tốc. Mã Lương thật sự là bậc kì tài, tài hoa xuất chúng, ông đã bỏ không ít công sức trong việc giúp Lưu Bị ngồi vững ở Tây Xuyên, đáng tiếc là ông mất quá sớm. Tuy nhiên người anh Mã Lương lại đánh giá sự thông minh của mình không thể so bì với người em trai là Mã Tốc, cậu học trò của Khổng Minh. Tuy nhiên cũng bởi thông minh mà sinh kiêu ngạo, Mã Tốc đã để thua trong trận đấu đầu tiên do mình cầm quân và để mất Nhai Đình và sau đó đã bị Gia Cát Lượng xử tử do đã vi phạm quân lệnh trạng. Khi người ta đọc đến câu này, một là tiếc cho Mã Lương đã mất quá sớm, hai là tiếc thay Mã Tốc thông minh cả đời nhưng lại hồ đồ một lúc dẫn đết kết cục đầy bi “Hết lòng tận tụy, đến chết mới thôi”Đây là câu nói của Gia Cát Lượng biểu hiện tâm tình rõ nhất của ông với Thục đế Lưu Bị và Thục chủ lúc bấy giờ là Lưu Thiện khi sáu lần ra Kỳ Sơn đánh Ngụy nhưng không thể thay đổi được mệnh trời vào lúc cuối đời. Nó cũng đã trở thành một câu nói ngoài cửa miệng của người thời nay. 4. “Trời đã sinh ra Du, sao còn sinh ra Lượng”Đây là câu nói mà Chu Du – đô đốc của nhà Ngô đã thốt lên từ tận đáy lòng mình trước khi qua đời, câu nói cho thấy sự phẫn uất lên đến tận cùng của Chu Du với Gia Cát Lượng. Câu nói này quá tự ti, tôn vinh chí khí của Gia Cát Lượng mà hạ bệ uy phong của chính mình. Tuy là một người vô cùng tài giỏi và chỉ đứng sau Tôn Quyền tại Giang Đông nhưng Chu Du luôn luôn tỏ ra đố kị với tài năng và trí thông minh của Khổng Minh để rồi cuối cùng chết trong phẫn uất. Do đó trong Tam Quốc diễn nghĩa, Chu Du là đại danh từ tượng trưng cho lòng dạ hẹp hòi, không chịu thua “Khắp người Tử Long đều là gan”Đây là câu nói mà Lưu Bị đã dành cho vị chiến tướng của mình là Thường Sơn Triệu Tử Long. Trong Tam Quốc diễn nghĩa, Triệu Vân không phải là đối tượng được tác giả chú trọng miêu tả nhưng vì mỗi lần ông ra trận đều là tư thế hiên ngang hùng dũng, đánh đâu thắng đó, có thể được một câu khẳng định của chủ nhân như vậy, tất nhiên là vui mừng đến nỗi không còn biết trời đất gì nữa. Và đương nhiên những người đọc Tam Quốc sẽ không thể nào quên hình tượng dũng mãnh của Triệu Vân một mình xông pha giữa trăm vạn quân Tào liều mình cứu Ấu “Phục Long, Phượng Sồ được một trong hai, ắt được thiên hạ”.Đây là câu nói của Tư Mã Huy khi Lưu Bị hỏi ông xem ai có thể giúp mình bình được thiên hạ. Ông vô cùng coi trọng Gia Cát Lượng và Bàng Thống và từng ví Gia Cát Lượng với Khương Thượng, Trương Lương vậy nên những lời này từ miệng ông nói ra cũng không có gì là lạ. Cả hai đều là bậc kỳ tài trong thiên hạ, trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, do đó những lời này cũng không phải là nói quá chút nào. Tuy nhiên điều kỳ lạ là dù sau này Lưu Bị đều có được hai người này nhưng lại không thể bình định được thiên hạ. Đó là chủ để gây tranh cãi rất nhiều về sau này. 7. “Việc trong không ổn hỏi Trương Chiêu, việc ngoài không ổn hỏi Chu Du”Đây là lời trăn trối của Tôn Sách trước lúc lâm trung cho người em ruột của mình hay Ngô Vương sau này Tôn Quyền. Tôn Quyền đảm nhận trọng trách lớn cai quản một vùng Giang Đông rộng lớn khi mới 17 Sách khi nắm quyền thường bị cho là “sách lược thì thiếu, khí phách có thừa” nghĩa là đấu võ rất giỏi nhưng mưu mẹo thì lại không có. Không ngờ rằng ông lại vẫn có tài nhìn người như vậy. Ý nghĩa câu nói của Tôn Sách đó là những việc khó mà em không quyết được, nếu là nội trong nhà thì hỏi Trương Chiêu con nếu là việc ngoài binh đao thì phải hỏi Chu Du. Và sự thật đã được chứng minh khi Trương Chiêu đã giúp đỡ cho Tôn Quyền rất nhiều trong việc cai quản Giang Đông còn Chu Du đã giúp cho nhà Ngô đánh bại quân Ngụy của Tào Tháo với trận Xích Bích nổi tiếng thiên “Sinh con thì phải được như Tôn Trọng Mưu”Thật khó tin khi câu nói này lại được phát ra từ miệng của Tào Tháo. Câu nói này hàm ý khen con trai của Tôn Kiên là Tôn Quyền Tôn Trọng Mưu. Thực tế đã chứng mình khả năng nhìn người rất tài ba của Tào Tháo khi Tôn Quyền sau này dù lên ngôi khi còn rất trẻ nhưng vẫn đứng vững trước các thế lực và trở thành đối trọng lớn nhất với Tào Tháo và Lưu Bị. 9. “Anh hùng trong thiên hạ, chỉ có sứ quân và Tháo thôi”Đây là câu nói kinh điển của Tào Tháo khi cùng Lưu Bị uống rượu luận anh hùng. Người đời sau cho rằng, trong tất cả những lời mà Tào Tháo từng nói qua, câu nói này là sâu sắc nhất. Khó trách Lưu Bị sợ đến nỗi làm rơi cả muỗng cũng may đúng lúc có tiếng sấm trên trời nên Lưu Bị mới có thể che giấu được mưu đồ của mình và khiến cho Tào Tháo không còn e ngại Lưu Bị nữa. 10. “Quan giỏi thời thịnh thế, gian hùng thời loạn lạc”Câu nói này không chỉ là định ra tính cách một đời cho Tào Tháo mà cũng nói ra năng lực của ông, trong thời thịnh thế, ông là quan thần trị quốc an bang còn trong thời loạn lạc thì là thủ lĩnh quân sự độc bá một phương. Một điều khác cũng khiến cho Tào Tháo vui mừng ra mặt khi nghe được câu nói này là vì ông không muốn đăng cơ xưng đế, để rồi trở thành kẻ bị người đời phỉ báng như Đổng thêm Ca Sĩ Lâm Khánh Chi - Lâm Khánh Chi Ly Hôn, Mắc Covid11. “Ta thà phụ người chứ quyết không để người phụ ta”Câu nói cuối cùng để khép lại 11 câu nói bất hủ của các anh hùng kiệt xuất trong Tam Quốc mà mình muốn nhắc đến ở đây chính là câu nói này của Tào Tháo. Câu nói này được Tào Thào nói với Trần Cung khi Trần Cung hỏi Tào A Man tại sao lại giết cả Lã Bá Sa mặc dù biết được gia đình ông ta không hề có ý định hãm hại mình mà trái lại còn bày tiệc chiêu đãi. Nó thể hiện bản chất man trá, lạnh lùng đến đáng sợ của Tào Tháo. Tuy câu nói này bị người đời đánh giá có phần tiêu cực nhưng có nhiều ý kiến lại cho rằng, nó rất đúng với thời thế loạn lạc lúc bấy giờ và trở thành quan điểm sống của rất nhiều người bây giờ. Quan điểm này của Tào Tháo hoàn toàn trái ngược với Lưu Bị khi ông luôn tâm niệm rằng “Thà người thiên hạ phụ ta chứ ta quyết không phụ người trong thiên hạ”.Chúc các bạn thành công ! Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc Những câu nói hay nhất trong tam quốc diễn nghĩa. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây và kính chúc quý độc giả năm mới 2022 an khang thịnh vượng ! Thông báo Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem. Tam Quốc diễn nghĩa là một trong tứ đại danh tác của Trung Quốc làm đắm lòng không biết bao đọc giả khắp nơi trên thế giới. Nhiều học giả còn đưa ra lời bình Tam Quốc diễn nghĩa rằng ít ai có thể thấu tỏ nội dung sâu sắc truyền tải nhiều thông điệp của tác phẩm này. Điểm lại những câu nói bất hủ trong tác phẩm này, chúng ta có thể hiểu hơn về điều đó. Tranh “Tam cố nhất ngộ” kể về điển tích Lưu Bị ba lần tìm gặp Khổng Minh nhưng đến lần thứ ba mới thỉnh mời được vị quân sư tài ba này. “Nhân trung Lữ Bố, mã trung Xích Thố”, tức người thì phải được như Lữ Bố, ngựa thì phải là ngựa Xích Thố. Chỉ vỏn vẹn với 8 chữ nhưng lại ca ngợi hai sự vật, đủ để thấy được rằng bút pháp thời xưa ngôn ngữ tinh tế mà ý nghĩa lại vô cùng sâu xa. Hơn nữa câu văn còn sáng sủa dễ đọc, ngay đến cả đàn bà trẻ nhỏ cũng đều thuộc lòng một cách dễ dàng. Về sau, Quan Vũ tuy cũng có được ngựa Xích Thố, nhưng cũng chưa từng nghe ai nói như vậy cả, đoán chắc rằng tác giả ắt hẳn phải là người hâm mộ của Lữ Ôn Hầu rồi. “Ngũ Thường họ Mã, Bạch Mi giỏi nhất” Năm người con trai nhà họ Mã, tên tự lần lượt là Bá Thường, Trọng Thường, Thúc Thường, Quý Thường, Ấu Thường, nên gọi là Ngũ Thường. Chân mày của Mã Lương, tức là Quý Thường có màu trắng, nên người đời gọi là “Bạch Mi”, do đó mới có câu “Ngũ Thường họ mã, Bạch Mi giỏi nhất”. Trong năm anh em, người được nhiều người biết đến nhất chỉ có hai anh em Mã Lương và Mã Tốc Ấu Thường. Mã Lương thật sự là bậc kì tài, tài hoa xuất chúng, ông đã bỏ không ít công sức trong việc giúp Lưu Bị ngồi vững ở Tây Xuyên, đáng tiếc là ông mất quá sớm. Tuy nói sự thông minh của Mã Tốc cũng khá là cao, cũng nhiều lần được Gia Cát Lượng khen ngợi, chỉ đáng tiếc về sau, ông đã đi sai một nước cờ, để mất Nhai Đình. Do vậy, khi người ta đọc đến câu này, một là tiếc cho Mã Lương đã mất quá sớm, hai là tiếc thay Mã Tốc thông minh cả đời, nhưng lại hồ đồ một lúc. “Hết lòng tận tụy, đến chết mới thôi” Có người nói “Hậu xuất sư biểu” không phải là của Gia Cát Lượng viết. Trước hết, cho dù là ai viết đi nữa thì “hết lòng tận tụy, đến chết mới thôi” ở đây chính là khắc họa chân thật nhất về Gia Cát Lượng, cũng là biểu hiện tâm tình rõ nhất của Gia Cát Lượng khi sáu lần ra Kỳ Sơn nhưng không thay đổi được mệnh trời vào lúc cuối đời, nó cũng đã trở thành một câu nói ngoài cửa miệng của người thời nay. Khổng Minh ngồi điềm nhiên gảy đàn trong “Không thành kế” “Trời đã sinh ra Du, sao còn sinh ra Lượng” Trong “ Tam Quốc diễn nghĩa”, Chu Du là đại danh từ tượng trưng cho lòng dạ hẹp hòi, không chịu thua ai, cũng chỉ khi ông ta bệnh nặng vô phương cứu chữa, không còn sống được bao lâu nữa, mới cảm khái mà thốt ra câu nói này từ tận đáy lòng. Chỉ có điều là câu nói này quá tự ti, tôn vinh chí khí của Gia Cát Lượng, mà hạ bệ uy phong của chính mình. Khiến cho hình tượng của hai người này đã định rõ vị trí trong đầu não mọi người. “Khắp người Tử Long đều là gan!” Đây là lời bình hăng say nhất của những ai hâm mộ Triệu Vân hay Triệu Tử Long, nguyên là trong “Tam Quốc diễn nghĩa”, Triệu Vân không phải là đối tượng được tác giả chú trong miêu tả, nhưng vì mỗi lần ông ra trận đều là tư thế hiên ngang hùng dũng, đánh đâu thắng đó, có thể được một câu khẳng định của chủ nhân như vậy, tất nhiên là vui mừng đến nỗi không còn biết trời đất gì nữa. Tuy nhiên, điều này cũng cho thấy Lưu Bị không có tài dùng người, bởi Triệu Vân đã theo ông nhiều năm như vậy, đến lúc này mới biết được can đảm của ông, bình thường chỉ giúp ông các việc lặt vặt như vận chuyển lương thảo, thu dọn chiến trường, bảo vệ gia quyến, quả thật là lãng phí nhân tài. “Phục Long, Phượng Sồ được một trong hai, ắt được thiên hạ”. Tư Mã Huy vô cùng coi trọng Gia Cát Lượng và Bàng Thống, ông từng ví Gia Cát Lượng với Khương Thượng, Trương Lương, vậy nên những lời này từ miệng ông nói ra cũng không có gì là lạ. Cả hai đều là bậc kỳ tài trong thiên hạ, trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, do đó những lời này cũng không phải là nói quá chút nào. Tuy nhiên điều kỳ lạ là Lưu Bị đều có được hai người này, nhưng lại không thể bình định được thiên hạ, không thể không khiến người ta suy ngẫm. “Việc trong không ổn hỏi Trương Chiêu, việc ngoài không ổn hỏi Chu Du” Tôn Sách khi nắm quyền thường là sách lược thì thiếu, khí phách có thừa’, không ngờ rằng ông lại vẫn có tài nhìn người như vậy, lúc trước tín nhiệm Thái Sử Từ về thành chiêu hàng mọi người, trước khi chết còn để lại cho Tôn Quyền những lời khuyên chân thành như thế, nhận ra phong cách xử sự của hai người này. Sự thật cũng đã chứng minh tính chuẩn xác trong lời ông nói, về đối ngoại thì Trương Chiêu chủ trương đầu hàng Tào Tháo, về đối nội thì Chu Du đem em gái của Tôn Quyền hồ đồ mà gả cho Lưu Bị, mà khi hai người làm những việc này lại làm được gần như hoàn mỹ. “Sinh con thì phải được như Tôn Trọng Mưu” Tôn Trọng Mưu chính là tên tự của Tôn Quyền. Nhiều người khi mới đọc không hiểu hàm nghĩa của câu nói này của Tào Tháo, rốt cuộc là ông đang khen Tôn Quyền hay đang mắng Tôn Quyền đây. Sau này mới biết, kì thực Tào Tháo là thế hệ cùng thời với Tôn Kiên, cha của Tôn Quyền, nên ông nói câu này cũng không có gì lạ cả. Ngoài ra, ý của Tào Tháo chính là khen Tôn Quyền có thể giữ được cơ nghiệp của cha anh để lại, so với những đứa con bại trận của Viên Thiệu và Lưu Biểu thì quả là khác nhau một trời một vực. Khó trách Tào lại ngậm bồ hòn làm ngọt, rất khen ngợi Tôn Quyền, tự mình nói ra mấy lời này. “Anh hùng trong thiên hạ, chỉ có sứ quân và Tháo thôi!” Có người cho rằng, trong tất cả những lời mà Tào Tháo từng nói qua, câu nói này là sâu sắc nhất. Khó trách Lưu Bị sợ đến nỗi làm rơi cả muỗng, ngay cả ông trời cũng phải rùng mình một cái, tưởng rằng thiên cơ đã bị tiết lộ rồi. Kỳ thực, Tào Tháo cũng chỉ là buột miệng nói như vậy, mục đích là để thăm dò Lưu Bị, nhưng cuối cùng lại bị Lưu Bị làm cho hồ đồ, phủ nhận câu nói chuẩn xác nhất trong suốt cuộc đời của mình. “Quan giỏi thời thịnh thế, gian hùng thời loạn lạc” Câu nói này, không chỉ là đã đặt định ra tính cách một đời cho Tào Tháo, mà cũng nói ra năng lực của ông, trong thời thịnh thế, ông là quan thần trị quốc an bang, trong thời loạn lạc thì là thủ lĩnh quân sự độc bá một phương. Một điều khác cũng khiến cho Tào Tháo vui mừng ra mặt khi nghe được câu nói này, nó không hề có dụng ý rằng ông có thể trở thành hoàng đế, và ông cũng không muốn đăng cơ xưng đế, để rồi trở thành một loại người giống như Vương Mãng, Đổng Trác trong sử sách. Tiểu Thiện, dịch từ NTDTV Trong 84 tập phim Tam Quốc Diễn Nghĩa, tác giả La Quán Trung đã xây dựng thành công rất nhiều hình tượng đặc sắc của các nhân vật nổi tiếng, để lại biết bao câu nói bất hủ khiến người xem không ngừng cảm khái và nhớ mãi. Những câu nói mà bất cứ một người yêu Tam Quốc nào cũng đều muốn “học thuộc lòng”.Bạn đang xem Những câu nói hay trong tam quốcChúng ta đều biết, Tam Quốc diễn nghĩa cũng là một trong tứ đại danh tác của Trung Quốc bên cạnh Thủy Hử, Hồng lâu mộng và Tây Du Kí. Nội dung xuyên suốt chủ yếu của tác phẩm kinh điển này nói về cuộc đấu tranh giữa ba thế lực phong kiến bao gồm nhà Ngụy do Tào Tháo đứng đầu, nhà Thục do Lưu Bị đứng đầu và nhà Ngô do Tôn Quyền đứng đầu trong việc nhất thống thiên hạ. Tuy nhiên cái kết cuối cùng lại hết sức bất ngờ khi giang sơn lại rơi vào tay con cháu của Tư Mã Ý, vốn là một đại thần trong triều chỉ đơn thuần là một tác phẩm văn học mang tính sử thi, Tam Quốc Diễn Nghĩa còn để lại những giá trị nhân văn đầy sâu sắc cho biết bao thế hệ người đọc trên toàn thế giới. Và chúng ta hãy cùng nhau xem lại 21 câu nói kinh điển của các nhân vật nổi tiếng trong bộ tiểu thuyết này Tào Tháo – “Ta thà phụ người chứ quyết không để người phụ ta”Câu nói này được Tào Thào nói với Trần Cung khi Trần Cung hỏi Tào A Man rằng tại sao lại giết cả Lã Bá Sa mặc dù biết được gia đình ông ta không hề có ý định hãm hại mình, mà trái lại còn bày tiệc chiêu đãi? Nó thể hiện một góc tính cách của ông man trá, lạnh lùng đến đáng tháo, một gian hùng nhưng cũng là một anh hùng, luôn mang trong mình tư tưởng đa nghi. Vốn sinh ra tài giỏi hơn người, tính tình hào hoa phóng đãng nhưng nhiều mưu mẹo, có tài dụng quân, cai trị thiên hạ. Việc ông giết cả nhà Lã Bá Sa âu cũng chỉ vì bất đắc dĩ, do giải nhầm những “tín hiệu” trong đêm, lúc tâm ông không tĩnh, vì đang bị truy sát, mà tưởng là kẻ thù đã đến nên mới ra tay tàn độc đến thế. Nhưng tự sâu thẳm Tào Tháo không hề muốn sau này, khi xem cách ông nhìn nhận và trọng dụng nhân tài là biết, nhưng vì quá đa nghi và thông minh mà ông mới có nét tính cách “nguy hiểm” đến cũng chính là lý do vì sao người ta gắn cho ông cái mác “gian” vào chữ “hùng”, để trở thành một nhân vật “gian hùng” nhất thời Tam Quốc. Tạo nên một nhân vật rất độc đáo đặc biệt, người ta có thể chê ông, chửi ông, nhưng chắc chắn một điều rằng, ai cũng phải “nể” ông, và có rất nhiều điều phải “học hỏi” từ ông… một nhân vật quá xuất chúng, không thể bàn Gia Cát Lượng – “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên. Số trời đã định, không thể cưỡng lại”Một trong những người được vinh danh muôn đời sau không ai khác là Gia Cát Lượng, phò tá của Lưu Bị. Sự kiệt xuất của ông khiến kẻ thủ phải cúi đầu kính nể, hậu thế phải nghiêng mình bái phục qua rất nhiều điển tích, trận đánh lớn.“Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên” – Số trời đã định, làm sao cưỡng lại! Kỳ nhân như Gia Cát Lượng ngàn năm khó kiếm, mang trong mình trí huệ tuyệt vời của người tu Đạo, được mệnh danh là “liệu sự như Thần”, tức chỉ có thể là “Thần” mới tính được đến mức ấy, là người thì không thể! Ấy vậy mà trong cuộc đời ông, ông cũng không thể nào tránh khỏi “thiên ý”, vốn là sự sắp đặt của định mệnh, của những sinh mệnh tầng cao hơn hẳn ông, vốn đã “an bài” toàn vẹn trật tự xã hội, sự thịnh suy của các triều đại, và của cả từng cá nhân mỗi một con người…Như lần đốt cha con Tư Mã Ý thất bại vì mưa trên trời tự nhiên’ rơi xuống, cản Lưu Bị tránh khỏi thất bại trong trận Di Lăng không được, lục xuất kỳ sơn nhiều lần suýt thắng thì bị điều về Tứ Xuyên, cầu sống lâu thêm 10 năm nữa để phục dựng sự nghiệp nhà Hán cũng bất thành,… tất cả đó đều là “ý trời”, trời muốn “biến” thì không ai cản nổi… chỉ có thuận theo tự nhiên mới là bậc trí giả, kẻ thức thời mới là trang tuấn thêm Cách Đăng Ký, Tạo Tài Khoản Game Ngọc Rồng Online Nhanh Nhất3. Lưu Bị – “Thà chết chứ không làm chuyện bất nhân bất nghĩa”Song hành cùng Gia Cát Lượng trong cuộc hành trình chinh phạt Tào Nguỵ là Lưu Bị với triết lí sống ngược lại Tào Tháo “Thà chết chứ không làm chuyện bất nhân bất nghĩa”.Chính vì điều này nên Lưu Bị, mặc dù chỉ là anh bán dép ngoài phố, đã lấy lòng được các anh hùng trong thiên hạ như 2 anh kem Trương Phi – Vân Trường, “thần nhân” Gia Cát Lượng, Triệu Tử Long, Mã Siêu, Hoàng Trung,… và hàng ngàn hàng vạn dân chúng thời bấy giờ, lập nên đại nghiệp hùng tráng, chấn động lịch Chu Du – “Trời đã sinh ra Du sao còn sinh ra Lượng”Trong “Tam Quốc diễn nghĩa”, Chu Du là đại danh từ tượng trưng cho lòng dạ hẹp hòi, không chịu thua ai, cũng chỉ khi ông ta bệnh nặng vô phương cứu chữa, không còn sống được bao lâu nữa, mới cảm khái mà thốt ra câu nói này từ tận đáy có điều là câu nói này quá tự ti, tôn vinh chí khí của Gia Cát Lượng, mà hạ mất uy phong của chính mình. Khiến cho hình tượng của hai người này đã định rõ vị trí trong đầu của mọi người mãi về sau. Thực chất, lịch sử cũng giống như một màn kịch, và để con người có thể hiểu thế nào là thiện-ác, đúng-sai, tốt-xấu thì đều cần người đến đễ “diễn” một phen, mới thấu tỏ được hàm nghĩa của từ câu chuyện này, Chu Du vốn là 1 đại đô đốc, một vị anh hùng cái thế nhà Đông Ngô, trí tuệ và uy dũng hơn người, nhưng vạn bất đắc dĩ, lịch sử lại “chọn ông” để đóng cái vai “ghen tỵ” ấy, nếu không thì sẽ khó có thể khiến cho con người hiểu được thế nào là “ghen tỵ”. Hoặc cũng có thể đây chỉ là thổi phồng trong tác phẩm nghệ thuật, với bàn tay cố ý sắp đặt của tác giả, cũng là để nhấn mạnh tình tiết ấy, chứ chưa hẳn trong lịch sử Chu Du là người như vậy. Nhưng có thể khẳng định, Đông Ngô có được 1 người như Chu Du quả là quá may mắn!5. Lưu Bị – “Khắp người Tử Long đều là gan”Đây là lời bình hăng say nhất của những ai hâm mộ Triệu Vân hay Triệu Tử Long, nguyên là trong “Tam Quốc diễn nghĩa”, Triệu Vân không phải là đối tượng được tác giả tập trung miêu tả, nhưng vì mỗi lần ông ra trận đều là tư thế hiên ngang hùng dũng, đánh đâu thắng đó, có thể được một câu khẳng định của Lưu Bị như vậy, tất nhiên là quá là vui mừng rồi!Còn nhớ trong trận Đương Dương Trường Bản, một mình Triệu Tử Long xung pha trận mạc, lọt giữa đại quân Tào Tháo, vẫn chiến đấu bất khuất, giết chết hơn 50 tướng địch, khiến ngay cả Tào Tháo cũng bội phục, từ đó giải cứu thành công ấu chúa A Đẩu, vang danh thiên hạ. Lòng can đảm, ý chí và sự trung thành ấy khiến người đời sau mỗi lần nhắc đến ông đều vô cùng cảm khái, và dành tặng cho ông một tình cảm vô cùng đặc biệt mà hiếm một nhân vật nào xuất hiện “không nhiều” mà lại được mến mộ đến Tào Tháo – “Sinh con thì phải được như Tôn Trọng Mưu”Tôn Trọng Mưu chính là tên tự của Tôn Quyền. Nhiều người khi mới đọc không hiểu hàm nghĩa của câu nói này của Tào Tháo, rốt cuộc là ông đang khen Tôn Quyền hay đang mắng Tôn Quyền đây. Sau này mới biết, kì thực Tào Tháo là thế hệ cùng thời với Tôn Kiên, cha của Tôn Quyền, nên ông nói câu này cũng không có gì lạ ra, ý của Tào Tháo chính là khen Tôn Quyền có thể giữ được cơ nghiệp của cha anh để lại qua bao phen sóng gió thời loạn thế, so với những đứa con bại trận của Viên Thiệu và Lưu Biểu thì quả là khác nhau một trời một vực. Khó trách Tào lại ngậm bồ hòn làm ngọt, rất khen ngợi Tôn Quyền, tự mình nói ra mấy lời thêm “Teemo Guide” Hướng Dẫn Cách Chơi, Lên Đồ, Bảng Ngọc Teemo Mùa 97. Tư Mã Huy – “Phục Long, Phượng Sồ, có được một trong hai, ắt được thiên hạ”Tư Mã Huy vô cùng coi trọng Gia Cát Lượng và Bàng Thống, ông từng ví Gia Cát Lượng với Khương Thượng Khương Tử Nha thời nhà Chu, Trương Lương thời nhà Hán, vậy nên những lời này từ miệng ông nói ra cũng không có gì là lạ. Cả hai đều là bậc kỳ tài trong thiên hạ, trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, do đó những lời này cũng không phải là nói quá chút nhiên điều kỳ lạ là Lưu Bị đều có được hai người này, nhưng lại không thể bình định được thiên hạ, không thể không khiến người ta suy ngẫm. Thực ra như đã nói ở trên, đó cũng chính là vì “thiên ý” đã định, chứ không phải nói 2 người này không giỏi. Khí số nhà Hán đã mạt, cần thay đổi triều đại, cũng giống như con người, đến lúc già, phải chết thì sẽ phải chết thôi, cố gắng uống thuốc hay làm gì để kéo dài thọ mệnh cũng khó lòng thay đổi được số phận. Nhưng qua đây mới thấy, dù khí số nhà Hán đã cạn, đến thời Hán Hiến Đế là rơi vào tay Tào Tháo, ấy vậy mà sự xuất hiện của Gia Cát Lượng đã khiến bánh xe lịch sử “chậm lại”, vẫn khiến xuất sinh 2 vị Hoàng Đế cuối cùng của nhà Hán là Lưu Bị và con trai ông, điều này cho thấy tài năng của Gia Cát Lượng là hoàn toàn vượt xa sự tưởng tượng!

bài thơ trong phim tam quốc diễn nghĩa