Nhà văn Lê Minh Khuê. VnDoc xin giới thiệu tới các bạn học sinh cùng các bạn bài viết về sự nghiệp và cuộc đời của nhà văn Lê Minh Khuê qua tác phẩm "Những ngôi sao xa xôi" trong chương trình Ngữ văn 9 để tìm hiểu và tham khảo giúp chúng ta hiểu rõ và cuộc đời ông và các tác phẩm nổi tiếng để học tốt môn
Lê Minh Khuê thuộc số ít các nhà văn đương đại Việt Nam có tác phẩm được chọn đưa vào chương trình sách giáo khoa môn Ngữ văn lớp 9 (truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi). Giả sử nếu chỉ được phép chọn năm tác giả truyện ngắn thời kì đổi mới văn chương rất có
Các tác phẩm của Lê Minh Khuê ra đời đầu những năm 70 của thế kỉ XX đều viết về cuộc sống chiến đấu của thanh niên xung phong và bộ đội trên tuyến đường Trường Sơn khói lửa. Từ sau năm 1975, sáng tác của Lê Minh Khuê đã bám sát những biến chuyển của đời sống
Cùng Phòng GD&DT Sa Thầy đọc bài Ý nghĩa nhan đề Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê (9 mẫu). Ý nghĩa nhan đề Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê gồm 9 mẫu, giúp các em học sinh lớp 9 hiểu sâu sắc hơn về những ý nghĩa sâu xa mà nhà thơ muốn gửi gắm vào đó.
Phát biểu kết luận tọa đàm, ông Phan Nguyễn Như Khuê, Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy TPHCM đánh giá các phát biểu tham luận đã tập trung phân tích các giá trị của tác phẩm, minh chứng bằng những số liệu, công trình, mô hình trên các lĩnh vực từ xây dựng Đảng, xây
Bạn đang xem: Tác phẩm đầu tay của lê minh khuê. Lê minh khê đã xuất bản nhiều tập truyện ngắn: Những ngôi sao xa xôi (NXB Kim Đồng, 1973); cao điểm mùa hè (xã luận của đội quân bình dân, 1978); kết thúc (phụ nữ xuất bản, 1982); một lối ra khỏi thị trấn (xuất bản mới
qxhnjW. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2 CAO THỊ THU HIỀN THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN LÊ MINH KHUÊ Chuyên ngành LÝ LUẬN VĂN HỌC Mã số 60 22 01 20 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM Ngƣời hƣớng dẫn khoa học PGS. TS. ĐOÀN ĐỨC PHƢƠNG HÀ NỘI, 2014 LỜI CẢM ƠN Với tình cảm chân thành nhất của mình, em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với PGS. TS. Đoàn Đức Phƣơng – Trƣởng Khoa Văn học – Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ngƣời thầy đã tận tâm hƣớng dẫn em hoàn thành luận văn này. Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, đặc biệt là các thầy cô giáo Phòng sau Đại học – Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2 đã quan tâm giúp đỡ em trong quá trình học tập và thực hiện đề tài. Sau cùng, tôi xin chia sẻ thành công nhỏ bé của mình với bạn bè, đồng nghiệp cùng gia đình – những ngƣời đã luôn cùng tôi, giúp đỡ tôi hoàn thành nhiệm vụ của mình! Đông Anh, ngày tháng năm 2014 Ngƣời thực hiện Cao Thị Thu Hiền LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác. Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc. Tác giả luận văn Cao Thị Thu Hiền MỤC LỤC MỞ ĐẦU ........................................................................................................................ 1 1. Lý do chọn đề tài ..................................................................................... 1 2. Lịch sử vấn đề ..................................................................................... 3 3. Mục đích, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu................................................. 6 4. Phƣơng pháp nghiên cứu ........................................................................... 6 5. Cấu trúc của luận văn ................................................................................ 7 6. Đóng góp của luận văn .............................................................................. 7 Chƣơng 1. KHÁI LƢỢC VỀ THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT VÀ SÁNG TÁC CỦA LÊ MINH KHUÊ ................................................................................................... 8 Khái lƣợc về thế giới nghệ thuật............................................................. 8 Sáng tác của Lê Minh Khuê ................................................................. 11 Hành trình sáng tác ......................................................................... 11 Quan niệm nghệ thuật của Lê Minh Khuê ..................................... 14 Khái niệm ............................................................................................... 14 Quan niệm nghệ thuật của Lê Minh Khuê về hiện thực cuộc sống ................................................................................................................... 15 Quan niệm nghệ thuật của Lê Minh Khuê về con nguời ........... 17 Chƣơng 2. CUỘC SỐNG VÀ CON NGƢỜI TRONG TRUYỆN NGẮN LÊ MINH KHUÊ ................................................................................................................... 21 Những bức tranh cuộc sống .................................................................. 21 Những vấn đề của thời chiến .......................................................... 21 Những vấn đề của thời hậu chiến ................................................... 23 Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Lê Minh Khuê ............................ 27 Khái niệm nhân vật và phân loại nhân vật ..................................... 27 Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Lê Minh Khuê ..................... 29 Nhân vật lý tƣởng ................................................................................ 31 Nhân vật tự ý thức ............................................................................... 38 Nhân vật tha hóa................................................................................... 41 Nhân vật cô đơn ................................................................................... 46 Nhân vật bi kịch ................................................................................... 48 Chƣơng 3. PHƢƠNG THỨC BIỂU HIỆN .............................................................. 54 Ngôn ngữ nghệ thuật ............................................................................ 54 Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật ..................................................... 54 Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn của Lê Minh Khuê ......... 54 Đối thoại ................................................................................................. 54 Độc thoại nội tâm ................................................................................. 59 Nghệ thuật tổ chức cốt truyện............................................................... 64 Khái niệm cốt truyện ...................................................................... 64 Các kiểu tổ chức cốt truyện ............................................................ 66 Cốt truyện lồng ghép ........................................................................... 66 Cốt truyện giản lƣợc ............................................................................ 69 Cốt truyện sự kiện - tâm lý ................................................................ 73 Diễn trình cốt truyện ...................................................................... 76 Phƣơng thức trần thuật.......................................................................... 85 Ngƣời trần thuật ............................................................................. 87 Trần thuật theo ngôi thứ ba ............................................................... 87 Trần thuật theo ngôi thứ nhất ............................................................ 90 Sự luân phiên các ngôi kể .................................................................. 94 Cách trần thuật ............................................................................... 96 Giọng điệu trần thuật .......................................................................... 96 Nhịp điệu trần thuật ........................................................................... 105 Cách kể, tả ........................................................................................... 110 KẾT LUẬN .................................................................................................................... 113 TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................... 116 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Thế giới nghệ thuật là một trong những phạm trù quan trọng của thi pháp học hiện đại. Chính vì vậy, nghiên cứu thế giới nghệ thuật là nghiên cứu văn học ở góc độ thi pháp, tránh đƣợc những cách tiếp cận không phù hợp tác phẩm văn học cả về nội dung và hình thức. Bởi vậy, thế giới nghệ thuật không chỉ là chỉnh thể của hình thức cụ thể, trực quan, cảm tính mà là hình thức mang tính quan niệm về thế giới và con ngƣời của nhà văn. Văn học Việt Nam sau năm 1975 thực sự có nhiều khởi sắc. Những đóng góp cả về phƣơng diện nội dung lẫn hình thức nghệ thuật của văn học giai đoạn này đã khẳng định những bƣớc chuyển mạnh mẽ của văn học nƣớc nhà. Việc xuất hiện ngày càng nhiều các cây bút nữ đã tạo nên sự phong phú, đa dạng cho văn xuôi giai đoạn này nhƣ Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Y Ban, Dạ Ngân, Lê Minh Khuê… đặc biệt là với thể loại truyện ngắn. Trong số rất nhiều tác phẩm truyện ngắn, Lê Minh Khuê đƣợc đánh giá là “một cây bút truyện ngắn sung sức”, có quá trình và có nhiều tìm tòi, đổi mới nghệ thuật. Với hơn 40 năm sáng tác, Lê Minh Khuê là một trong số không nhiều tác giả chuyên tâm viết truyện ngắn và thực sự có nhiều duyên nợ với thể loại này. Bắt đầu cầm bút từ những năm cuối thập niên 60, thế kỷ XX, và viết khỏe cho đến tận hôm nay, sáng tác của Lê Minh Khuê vắt ngang qua hai thời kỳ văn học, trƣớc và sau 1975. Mỗi tập truyện ngắn của chị ra đời đều đánh dấu những đổi mới quan trọng trong từng chặng đƣờng sáng tác. Ở chặng đƣờng nào, Lê Minh Khuê cũng để lại dấu ấn riêng, đậm chất nữ tính trong cách, cách nghĩ và đặc biệt trong những thể nghiệm tìm tòi, đổi mới hình thức nghệ thuật. Trên hành trình sáng tác của mình, tuy có những lúc khó khăn và vấp váp song Lê Minh Khuê cũng gặt hái đƣợc khá nhiều thành công. Bà 2 giành giải thƣởng của Hội nhà văn Việt Nam với tập Một chiều xa thành phố năm 1987 và tập Trong làn gió heo may năm 2000. Năm 1994, bà giành giải thƣởng của Tạp chí Văn nghệ quân đội với tập Bi kịch nhỏ. Điều đó chứng tỏ giới nghiên cứu và bạn đọc trong nƣớc đã có những đánh giá, ghi nhận xứng đáng với lao động nghệ thuật của Lê Minh Khuê. Bên cạnh đó, nhiều truyện ngắn tiêu biểu của Lê Minh Khuê đã đến với bạn đọc thế giới. Tập truyện Những ngôi sao, trái đất, dòng sông đƣợc giải thƣởng liên hoan thƣờng niên mang tên văn hào Byeong – ju Lee của Hàn Quốc 2008. Trong thông báo gửi tới Hội nhà văn Hà Nội, Hội đồng giải thƣởng nhận định “Là một nhà văn nữ hàng đầu, Lê Minh Khuê ban đầu được biết đến bằng những tác phẩm viết về các cô gái tham gia cuộc chiến tranh giữ nước, tác phẩm thời hậu chiến của bà quan tâm đến hậu quả chiến tranh nước mình, những vấn đề sau khi thống nhất đất nước, sự nghèo đói và tình trạng xói mòn văn hóa và tinh thần khi đất nước chuyển sang một xã hội tiêu thụ. Những vấn đề này được thể hiện bằng một văn phong đẹp, chua xót, trang nghiêm”. Cuốn sách này cũng đã đƣợc nhà xuất bản Curbstone Press Mỹ phát hành. Nó trở thành “…cuốn sách đầu tiên trong chùm những tác phẩm “Tiếng nói từ Việt Nam”…” đem những hình ảnh về đời sống hiện thực và thế giới tâm hồn con ngƣời Việt Nam đến gần hơn với bạn bè năm châu, đặc biệt là ở nƣớc Mỹ. Hơn thế, tác giả Rochelle của báo The Pilot còn khẳng định “Đây là những truyện nên được dạy trong những giờ văn học và lịch sử trên toàn nước Mỹ, cả ở trường trung học phổ thông lẫn đại học”; bởi tác giả “đã cho độc giả một cái nhìn sâu sắc và trung thực hiếm hoi về Việt Nam” Báo The Colombus Dispatch. Nhƣ vậy, tuy không phải cây bút mở đƣờng cho văn học thời kỳ đổi mới nhƣ Nguyễn Minh Châu hay một hiện tƣợng văn học gây nhiều tranh cãi nhƣ Nguyễn Huy Thiệp nhƣng Lê Minh 3 Khuê thực sự là một tác giả truyện ngắn nữ có quá trình, có nội lực, sức bền và có triển vọng “có thể đi xa”. Với đề tài này, ngƣời viết có cơ hội hiểu thêm về thế giới nghệ thuật của một nhà văn đƣơng đại. Từ đó, chúng ta có thể hình dung những vấn đề về sự vận động thể loại truyện ngắn trƣớc và sau năm 1975, có cái nhìn khái quát về truyện ngắn thời kỳ đổi mới. Khóa luận góp thêm cơ sở vững chắc hơn đối với việc đánh giá tài năng, phong cách nghệ thuật và vị trí văn học của nhà văn Lê Minh Khuê trong nền văn học Việt Nam. Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện đề tài, ngƣời viết đƣợc củng cố bổ sung những kiến thức lịch sử văn học phục vụ cho công tác giảng dạy. Từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài Thế giới nghệ thuật truyện ngắn Lê Minh Khuê. 2. Lịch sử vấn đề Lê Minh Khuê tỏ rõ là một cây bút truyện ngắn có nội lực, sức bền và để lại ấn tƣợng khá đậm trong lòng độc giả với nhiều truyện ngắn đã ra mắt, đặc biệt là tập truyện Bi kịch nhỏ, dƣ luận đã có rất nhiều những ý kiến đánh giá trái chiều, khen chê đều mạnh mẽ. Dƣới đây là tóm lƣợc những ý kiến khác nhau của các tác giả - những nhà nghiên cứu, phê bình văn học – về truyện ngắn Lê Minh Khuê đƣợc đăng trên các báo và tạp chí nhà chúng tôi đã sƣu tầm đƣợc. Ngay khi tập truyện ngắn thứ ba trong đời văn Lê Minh Khuê, Một chiều xa thành phố, ra đời, nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng đã nhận diện đƣợc những điểm tiêu biểu trong văn phong của bà “Văn của Lê Minh Khuê, ngay từ đầu đã có một vẻ gì đó “hoang dã”, phải nói ngay là kiểu viết như thế này lộ rất rõ chất văn của chị” và “Đọc văn Lê Minh Khuê, chúng ta thấy khi viết dường như chị tựa hẳn vào những ấn tượng, cảm giác. Những ấn tượng này là mơ hồ, nhiều khi khó hiểu, cứ bảng lảng thành thử câu văn gợi 4 nhiều những liên tưởng. Lối viết này là do cách cảm nhận đời sống bằng trực giác” [92, Trong bài viết “Lê Minh Khuê, một bản lĩnh truyện ngắn”, tác giả Bùi Việt Sỹ đã viết “Có không ít tác giả, sau một vài truyện ngắn thành công ban đầu đã từ biệt thể loại này để quay sang viết tiểu thuyết. Phải, tiểu thuyết, những tập sách “có gáy” dường như dễ làm người viết nổi tiếng hơn? Nhưng với Lê Minh Khuê, từ lúc cầm bút đến nay, đã ngoài 20 năm, chị vẫn chung thủy với truyện ngắn” [89]. Nhà nghiên cứu Lê Thị Đức Hạnh khẳng định những truyện ngắn đầu tay của Lê Minh Khuê “đã hình thành một dáng vẻ riêng” và “Lê Minh Khuê là một cây bút nữ có nhiều đóng góp về truyện ngắn. Từ hồn nhiên, trong trẻo đến sắc sảo nghiêm ngặt, chị luôn có một chất giọng riêng. Chị đi vào một số mặt trong cuộc sống, chú ý nhiều đến đạo đức, nhân sinh, nhân tình thế thái … Việc đối mới bút pháp những năm gần đây là dấu hiệu đáng mừng. Lê Minh Khuê là một cây bút nữ tài năng và đang rất sung sức” [26]. Bên cạnh những ý kiến khen ngợi, đồng cảm, truyện ngắn Lê Minh Khuê, mà cụ thể là tập Bi kịch nhỏ cũng nhận không ít những ý kiến trái chiều về mặt chính trị quan điểm, đƣờng lối, tƣ tƣởng. Năm 1993, khi tập truyện ngắn Bi kịch nhỏ ra đời, ngay lập tức đã thu hút nhiều ý kiến khác nhau. Nhiều ý kiến trái chiều khen có, chê có. Nhóm những ngƣời phê phán, thậm chí phản đối dữ dội tác phẩm này cho rằng “Dụng ý bôi đen, bóp méo sự thật của tác giả thật rõ ràng” [80]; “Với truyện này, tác giả viết ra từ lòng u uất, chất chứa những cay đắng bất bình, chủ quan, một chiều, chỉ thấy màu xám, cái u tối, không hề cho người đọc thấy được một mảng sáng nào dù le lói ở cuối đường”, “một vài hình ảnh bộ đội, công an, nhất là tầng lớp trí thức … tôi cho rằng tác giả cường điệu, bóp méo” [91]; tác phẩm “bôi 5 nhem con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam với lối miêu tả, so sánh vừa tinh vi vừa trắng trợn”, “tô đậm lẽ sống chạy theo đồng tiền” [99] Bên cạnh những ý kiến phê phán, nhiều tác giả khác có cái nhìn khách quan, công tâm hơn với Bi kịch nhỏ. Bùi Việt Sỹ xem Bi kịch nhỏ là tập truyện đã “gây ấn tượng mạnh”; trong đó “chín truyện ngắn, chín truyện khác nhau nhưng mang một nỗi buồn nghẹn ngào của tác giả trước nỗi đau của thân phận con người”. Hồ Anh Thái cho rằng “Đến tận lúc ý thức được cái ác mà kẻ ác vẫn tiếp tục làm điều ác, vậy thì nó đáng bị truy đuổi tận cùng, và thái độ không khoan nhượng của tác giả nhận được sự đồng tình của người đọc”. Nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nguyên tỏ ra đồng tình với cách thể hiện của Lê Minh Khuê trong Bi kịch nhỏ với quan niệm “quá khứ phải nhìn thẳng vào nó để nó không còn cơ hội lặp lại theo chiều hướng xấu, chiều hướng ác…” và Bi kịch nhỏ của Lê Minh Khuê là một cố gắng của bà, của thể loại truyện ngắn và của văn học hôm nay đi tìm lại lịch sử qua thân phận con ngƣời. Qua những ý kiến và đánh giá nêu trên, chúng ta có thể nhận thấy ở một số chừng mực nào đó, những bình luận này chỉ dừng lại ở những khía cạnh nội dung, tƣ tƣởng mà chƣa đi sâu vào vấn đề nghệ thuật. Nhà văn Hồ Anh Thái cho rằng “Lê Minh Khuê không chỉ quan tâm đến hiện thực mà chị phản ánh, chị quan tâm nhiều hơn đến cách trình bày hiện thực đó. Chị rất có ý thức nói bằng giọng của mình – tiết chế, đôi khi chủng chẳng khô khan, nhưng đầy hàm ý. Chị rất chú trọng cái nhìn hiện thực của mình – điềm tĩnh, cuộc sống diễn ra trước mắt như một cuốn phim đang xem trong rạp” [90]. Chính bởi lẽ đó, trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi muốn dành nhiều thời lƣợng cho các vấn đề có liên quan tới thế giới nghệ thuật truyện ngắn Lê Minh Khuê. 6 3. Mục đích, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu - Mục đích nghiên cứu Luận văn hƣớng tới mục đích tìm ra đƣợc những điểm mới, những sáng tạo và đóng góp của Lê Minh Khuê trong dòng chảy truyện ngắn, từ đó khẳng định vị trí và vai trò của Lê Minh Khuê đối với văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới. - Đối tượng nghiên cứu Đối tƣợng khảo sát chính là thế giới nghệ thuật truyện ngắn Lê Minh Khuê bức tranh cuộc sống, thế giới nhân vật, các phƣơng diện nghệ thuật đặc sắc. - Phạm vi nghiên cứu Luận văn khảo sát toàn bộ truyện ngắn của nhà văn Lê Minh Khuê qua từng chặng sáng tác, đƣợc tập hợp trong các tập + Cao điểm mùa hạ - NXB Quân đội nhân dân, 1978 + Đoạn kết – NXB Phụ nữ, 1981 + Một chiều xa thành phố - NXB Tác phẩm mới, 1986 + Bi kịch nhỏ - NXB Hội nhà văn, 1993 + Trong làn gió heo may – NXB Văn học, 1999 + Những dòng sông, buổi chiều, cơn mưa – Truyện ngắn chọn lọc – NXB Phụ nữ, 2002 + Màu xanh man trá – NXB Phụ nữ, 2005 + Một mình qua đường – NXB Hội nhà văn, 2006 + Nhiệt đới gió mùa – NXB Hội nhà văn, 2012 + Lê Minh Khuê – Truyện ngắn chọn lọc – NXB Thanh niên, 2013 Ngoài ra, chúng tôi khảo sát một số truyện ngắn và tiểu thuyết của Lê Minh Khuê đăng rải rác trên các báo và tạp chí. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã phối hợp vận dụng các phƣơng pháp sau 7 - Phương pháp tiếp cận thi pháp học Phƣơng pháp này đƣợc áp dụng để tìm hiểu sánh tác của Lê Minh Khuê dƣới góc độ thi pháp nhằm làm rõ đặc trƣng thể loại của tác phẩm. - Phương pháp tiểu sử Chúng tôi tìm hiểu tiểu sử nhà văn Lê Minh Khuê để phục vụ cho việc đi sâu vào tác phẩm của bà. - Phương pháp so sánh Chúng tôi so sánh truyện ngắn của Lê Minh Khuê với các nhà văn khác để thấy đƣợc điểm khác biệt và đặc trƣng trong sáng tác của Lê Minh Khuê. - Phương pháp phân tích, tổng hợp Phƣơng pháp này vừa đi sâu nghiên cứu thế giới nghệ thuật truyện ngắn Lê Minh Khuê, vừa hệ thống, tổng hợp các kết quả để minh chứng cho các luận điểm của luận văn. - Phương pháp thống kê Phƣơng pháp này giúp phân loại các đặc điểm nổi bật về nội dung, các kiểu dạng nhân vật và các phƣơng thức nghệ thuật trong truyện ngắn Lê Minh Khuê. 5. Cấu trúc của luận văn Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Thƣ mục tham khảo, nội dung của luận văn đƣợc triển khai trong ba chƣơng Chƣơng 1 Khái lƣợc về thế giới nghệ thuật và sáng tác của Lê Minh Khuê Chƣơng 2 Cuộc sống và con ngƣời trong truyện ngắn Lê Minh Khuê Chƣơng 3 Phƣơng thức biểu hiện 6. Đóng góp của luận văn Luận văn nhằm làm rõ những đặc sắc về nghệ thuật trong truyện ngắn Lê Minh Khuê, từ đó khẳng định tài năng, vị trí và những đóng góp của Lê Minh Khuê trong văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới. 8 Chƣơng 1 KHÁI LƢỢC VỀ THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT VÀ SÁNG TÁC CỦA LÊ MINH KHUÊ Khái lƣợc về thế giới nghệ thuật Những năm trƣớc 1970, sáng tác của nhà văn thƣờng đƣợc nhìn nhận nhƣ một tập hợp đơn giản của các bộ phận, các mảng rời. Thực tế, các tác phẩm của nhà văn tạo thành một thể thống nhất, giữa chúng tồn tại mối quan hệ gắn bó, chặt chẽ nhƣ một sinh thể. Những năm 70 của thế kỷ XX, ở Nga xuất hiện khái niệm thế giới nghệ thuật qua các công trình nghiên cứu văn học. Khái niệm này xuất hiện từ yêu cầu muốn tiếp cận tác phẩm văn học trong dạng chỉnh thể. Thế giới nghệ thuật đƣợc tiếp cận ở các góc độ khác nhau. Từ xƣa, ngƣời Trung Quốc đã gọi tác phẩm thơ là “một cõi ý”. Nhà văn Seđrin lại nói “Tác phẩm văn học là một vũ trụ thu nhỏ, mỗi sản phẩm nghệ thuật là một thế giới khép kín trong bản thân nó”. Nhƣ vậy, một tác phẩm toàn vẹn phải xuất hiện nhƣ một thế giới nghệ thuật. Bielinxki cũng đã nhận xét “Mọi sản phẩm nghệ thuật đều là một thế giới riêng mà khi đi vào đó thì ta buộc phải sống theo quy luật của nó”. Những nhận xét trên cho thấy Mọi thế giới nghệ thuật là tổng thể có quy luật riêng, có tính độc lập nội tại, phân biệt với các thế giới khác và có ý nghĩa riêng của nó. Ở Việt Nam, năm 1997, các tác giả cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học”, đã định nghĩa Thế giới nghệ thuật là “Khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, sáng tác của một tác giả, một trào lưu. Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng, được tạo ra theo các nguyên tắc tư tưởng và nghệ thuật, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lý của con người, mặc dù là nó phản ánh các thế giới ấy. Thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời gian riêng, quy luật tâm lý riêng, có quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, 9 thang bậc giá trị riêng… chỉ xuất hiện một cách ước lệ trong sáng tác nghệ thuật” [25, hạn trong thế giới truyện cổ tích, con ngƣời và loài vật, cây cối, thần Phật đều nói chung một thứ tiếng ngƣời, đôi hài có thể đi một bƣớc vài dặm, nồi cơm vô tận ăn mãi không hết trong truyện Thạch Sanh… Trong văn học lãng mạn, quan hệ nhân vật thƣờng xây dựng trên cơ sở cảm hóa; trong văn học cách mạng, nhân vật thƣờng chia thành hai tuyến địch – ta, ngƣời chiến sĩ cách mạng và quần chúng. Nhƣ thế, mỗi thế giới nghệ thuật có một mô hình nghệ thuật trong việc phản ánh thế giới. Sự hiện diện của thế giới nghệ thuật không cho phép đánh giá và lý giải tác phẩm theo lối đối chiếu giản đơn giữa các yếu tố hình tƣợng với các sự thực đời sống riêng lẻ, xem có “giống” hay không, “thật” hay không, mà phải đánh giá trong chỉnh thể của tác phẩm, xem xét tính chân thật của tư tưởng chỉnh thể của tác phẩm so với chỉnh thể hiện thực. Các yếu tố của hình tƣợng chỉ có ý nghĩa trong thế giới nghệ thuật của nó. Mỗi thế giới nghệ thuật ứng với một quan niệm về thế giới, một cách cắt nghĩa về thế giới. Trong thần thoại, thế giới nghệ thuật gắn với quan niệm về các sự vật có thể biến hóa lẫn nhau. Trong truyện cổ tích, đặc biệt là cổ tích thần kỳ, nó gắn với quan niệm về thế giới không có sức cản. Thế giới nghệ thuật của sáng tác hiện thực chủ nghĩa gắn với quan niệm tác động tƣơng hỗ giữa tính cách và hoàn cảnh… Khái niệm thế giới nghệ thuật giúp ta hình dung độc đáo về tƣ duy nghệ thuật của sáng tác nghệ thuật có cội nguồn trong thế giới quan, văn hóa chung, văn hóa nghệ thuật và cá tính sáng tạo của nghệ sĩ. Trong cuốn Thơ tình Việt Nam 1975 – 1990 1998, Lê Lƣu Oanh đã chi tiết hóa khái niệm này qua hình tƣợng cái tôi trữ tình. Tác giả viết “Gọi cái tôi trữ tình là một thế giới nghệ thuật bởi thế giới nội cảm này là một thể thống nhất có ngôn ngữ và quy luật riêng phụ thuộc vào lịch sử cá nhân, thời 10 đại… Đi sâu vào thế giới nghệ thuật được coi như một kênh giao tiếp với những mã số, ký hiệu, giọng nói, chương trình riêng, cần có thao tác phù hợp… Thế giới nghệ thuật của cái tôi trữ tình là một thế giới mang giá trị thẩm mỹ”. Năm 1985, trong luận án Tiến sĩ khoa học Sự hình thành và những vấn đề của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Nghĩa Trọng đã xác định hàm nghĩa khái niệm thế giới nghệ thuật nhƣ sau “Thế giới nghệ thuật là một phạm trù mỹ học bao gồm tất cả các yếu tố của quá trình sáng tạo nghệ thuật và tất cả kết quả của quá trình hoạt động nghệ thuật của nhà văn. Nó là một chỉnh thể nghệ thuật và một giá trị thẩm mỹ. Thế giới nghệ thuật bao gồm hiện thực - đối tượng khách quan của nhận thức nghệ thuật, cá tính sáng tạo của nhà văn hay chủ thể nhận thức nghệ thuật, ngôn ngữ hay chất liệu nghệ thuật. Trong thế giới nghệ thuật chứa đựng sự phản ánh hiện thực, tư tưởng, tình cảm của nhà văn. Thế giới nghệ thuật không chỉ tương đương đối với tác phẩm nghệ thuật mà còn rộng hơn bản thân nó. Nó có thể bao gồm tất cả các tác phẩm nghệ thuật của một nhà văn, một trào lưu nghệ thuật, một thời kỳ nhất định của văn học, một nền văn học của dân tộc hay nhiều dân tộc nhưng đồng thời cũng có thể liên quan đến nhiều yếu tố khác của sáng tạo nghệ thuật nhỏ hơn khái niệm hình tượng nghệ thuật”. Thế giới nghệ thuật của một nhà văn mang đậm dấu ấn chủ quan của ngƣời sáng tạo. Xét đến cùng, thế giới nghệ thuật của một nhà văn chính là thế giới hình tƣợng hiện ra nhƣ một chỉnh thể sống động, chứa đựng một quan niệm nhân sinh và thẩm mỹ nào đó, đƣợc xây dựng bằng vật liệu ngôn từ. Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng “Thế giới nghệ thuật của nhà văn hiểu theo đúng nghĩa của nó là một chỉnh thể, đã là một chỉnh thể tất phải có cấu trúc 11 nội tại theo những nguyên tắc thống nhất, cũng có nghĩa là quan hệ nội tại giữa các yếu tố phải có tính quy luật” [62, Luận văn hiểu khái niệm thế giới nghệ thuật ở góc độ tất cả các yếu tố cấu tạo nên tác phẩm nhƣ nhân vật, cốt truyện, kết cấu, ngôn ngữ, các thủ pháp nghệ thuật… Thế giới nghệ thuật truyện ngắn Lê Minh Khuê muôn màu và đa sắc, chính điều này tạo nên những giá trị trong tác phẩm của nhà văn. Sáng tác của Lê Minh Khuê Hành trình sáng tác Lê Minh Khuê sinh ngày quê ở huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. tLê Minh Khuê tham gia chiến tranh chống Mỹ từ 1965 đến 1969. Từ 1969 đến 1975, nhà văn là phóng viên chiến trƣờng. Từ 1975 đến 2005, bà là biên tập viên tại Nhà xuất bản Hội nhà văn. Lê Minh Khuê bắt đầu viết văn vào đầu những năm 70 của thế kỷ XX. Trong những năm chiến tranh, truyện của bà viết về cuộc sống chiến đấu của tuổi trẻ ở tuyến đƣờng Trƣờng Sơn. Nơi bắt đầu của những bức tranh là truyện ngắn đầu tay với bút danh Vũ Thị Miền, in trên báo Văn nghệ 1971 đã cho thấy một cây bút khá chuyên nghiệp. Hàng loạt những tác phẩm về đề tài chủ nghĩa anh hùng cách mạng sau đó nhƣ Cao điểm mùa hạ, Con sáo nhỏ của tôi, Bạn bè tôi, Mẹ, Tình yêu người lính… thể hiện sự phong phú trong sáng tác của một cây bút trẻ nhiều triển vọng. Một trong những truyện ngắn tiêu biểu đầu tiên của Lê Minh Khuê là Những ngôi sao xa xôi viết năm 1971 với hình ảnh của những cô gái thanh niên xung phong tâm hồn trong sáng, mơ mộng, tinh thần dũng cảm, cuộc sống chiến đấu đầy gian khổ hy sinh nhƣng rất hồn nhiên, lạc quan. Họ “thích ngồi bó gối mơ màng “Về đây khi mái tóc còn xanh xanh…”. Lúc phá bom, họ kiên gan đến đáng sợ “Tôi dùng xẻng nhỏ đào đất dưới quả bom. Đất rắn. Những hòn sỏi theo tay tôi bay ra hai bên. Thỉnh thoảng lưỡi xẻng chạm vào 12 quả bom. Một tiếng động sắc đến gai người, cứa vào ra thịt tôi. Tôi rùng mình và bỗng thấy tại sao mình làm quá chậm”. Bƣớc vào làng văn với truyện ngắn đầu tay, Lê Minh Khuê đã mang đến một sự “trong trẻo, lãng mạn, đậm đặc không khí tuổi xuân ra trận”. Nhà văn tâm sự về tác phẩm này nhƣ sau “Ngày đó tôi là phóng viên báo Tiền Phong, đã từng đi đến rất nhiều các chiến trường để viết báo. Năm 1971, tôi cùng một binh chủng làm đường đến đèo Côlanhíp và đã ở lại một đêm trong hang đá cùng một tiểu đội công binh. Họ cũng là những người trẻ, hầu hết là học sinh trung học, những sinh viên… đi tham gia kháng chiến. Sống cùng nhau, cùng tuổi, cùng lý tưởng như nhau trong một hoàn cảnh vô cùng ác liệt nên dễ dàng hiểu và chia sẻ cho nhau. Trong tâm hồn những cô gái thanh niên xung phong, quê nhà bao giờ cũng hiện lên kỳ diệu. Và bởi vẻ đẹp kỳ diệu đó mà họ sẵn sàng hy sinh. Đó cũng chính là ý tưởng lớn nhất mà tôi muốn gửi gắm qua truyện ngắn này”. Đề tài chung trong sáng tác của nhà văn giai đoạn này là cuộc kháng chiến gian lao mà vĩ đại của toàn dân tộc với âm hƣởng ngợi ca hào hùng. Sau năm 1975, tác phẩm của nhà văn bám sát những biến chuyển của đời sống xã hội và con ngƣời trên tinh thần đổi mới. Nhà văn đề cập đến những vấn đề nóng hổi của hiện thực đời sống đang diễn ra, những băng hoại về đạo đức, những đƣợc mất ở đời, những trăn trở của con ngƣời hôm nay… Lê Minh Khuê băn khoăn, day dứt trƣớc cuộc sống của những con ngƣời đang ngày càng tha hóa. Cái ác, cái phi nhân tính dƣờng nhƣ đang lấn lƣớt. Trong những tác phẩm nhƣ Anh lính Tony D, Cơn mưa cuối mùa, Bi kịch nhỏ, Cuộc chơi, Đồng đô la vĩ đại…, ngƣời ta nhìn thấy sự cảnh báo gay gắt về sự suy thoái tinh thần trong xã hội, thấy những số phận con ngƣời luẩn quẩn làm nô lệ cho dục vọng của mình… Đằng sau đó là bao hy vọng của nhà văn về việc đánh thức những gì tốt đẹp, những giá trị nhân bản trong mỗi con ngƣời 13 và một trái tim tha thiết niềm tin vào những giá trị gọi là thuần phong mĩ tục tốt đẹp của dân tộc. Không chỉ mạnh dạn trong việc tiếp cận những góc khuất của đời sống, Lê Minh Khuê cũng không ngừng nỗ lực đổi mới cách thể hiện nhƣ việc lựa chọn chi tiết, cách diễn đạt, ngôn ngữ, giọng điệu mang dấu ấn riêng của nhà văn. Sự tìm tòi, đổi mới bút pháp của nhà văn là một điều đáng trân trọng và khích lệ. Hồ Anh Thái có nhận định trên báo Tuổi trẻ “Nhiều người đọc tâm đắc với mảng truyện này của Lê Minh Khuê đồng thời cũng rất ngạc nhiên. Phương pháp tiếp cận đời sống nào và khả năng xử lý hiện thực nào, khả năng hư cấu nào, trí tưởng tượng nào khiến một người đàn bà thùy mị, bao giờ cũng nghĩ tốt về mọi người lại có thể trở nên sắc sảo và dữ dội đến thế trong văn chương”. Truyện ngắn Lê Minh Khuê đã để lại một dấu ấn khá đậm nét trong lòng độc giả và vị trí của bà trong nền truyện ngắn đƣơng đại Việt Nam đã đƣợc khẳng định. Trong cuốn Giáo trình văn học Việt Nam sau 1975 Mã Giang Lân, Bùi Việt Thắng biên soạn, không phải ngẫu nhiên mà Lê Minh Khuê đƣợc nhìn nhận, đánh giá bên cạnh Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng. Không những vậy, Lê Minh Khuê cũng là một trong số ít các nhà văn Việt Nam có tác phẩm đƣợc dịch và giới thiệu ở nƣớc ngoài cùng Bảo Ninh, Lê Lựu, Hồ Anh Thái, Nguyễn Khắc Trƣờng, Nguyễn Huy Thiệp. Lê Minh Khuê cũng là nhà văn đạt đƣợc nhiều giải thƣởng văn học - Giải thƣởng Hội nhà văn Việt Nam cho các tập truyện ngắn Một chiều xa thành phố 1987 và Trong làn gió heo may 2000. - Giải thƣởng mang tên nhà văn Byeong – ju Lee của Hàn Quốc năm 2008 cho tập truyện ngắn Những ngôi sao, trái đất, dòng sông Giải thƣởng Byeong – ju Lee đƣợc thành lập từ liên hoan văn học quốc tế Hadong năm 14 2007 và trao giải thƣởng thƣờng niên cho một nhà văn căn cứ vào tác phẩm đề cử bằng tiếng Anh. Thông báo của Hội đồng giải thƣởng ngày 7/3/2008 viết “Là một nhà văn nữ hàng đầu, Lê Minh Khuê ban đầu được biết đến bằng những tác phẩm viết về các cô gái tham chiến trong cuộc chiến tranh giữ nước. Tác phẩm thời hậu chiến của bà quan tâm đến hậu quả chiến tranh đối với đất nước mình, những vấn đề sau khi thống nhất đất nước, sự nghèo đói và tình trạng xói mòn văn hóa và tinh thần khi đất nước chuyển sang một xã hội tiêu thụ. Những vấn đề này được thể hiện bằng một văn phong đẹp, chua xót và trang nghiêm”. Nhƣng trả lời báo chí, Lê Minh Khuê chỉ khiêm nhƣờng nói rằng “Không phải vì tài năng, nhiều người tài năng hơn tôi, xứng đáng hơn tôi… Nhưng có một khía cạnh khiến những người trong hội đồng xét giải, phần lớn là người Hàn Quốc chú ý đến tôi, có lẽ vì tôi hay viết về những vấn đề hậu chiến trong một lãnh thổ từng bị chia cắt như đất nước họ hiện tại… Người Hàn Quốc đồng cảm với chúng ta hơn. Nhờ thế mà tôi được giải thưởng. Cũng không loại trừ có một chiếu cố nào đấy”. Con ngƣời Lê Minh Khuê là vậy, tài năng mà khiêm nhƣờng. Phải chăng vì thế mà văn của bà giản dị mà lấp lánh, sinh động, biến hóa? Điều đó tạo nên một “cốt cách văn chƣơng” rất riêng, không thể lẫn với ai. Quan niệm nghệ thuật của Lê Minh Khuê Khái niệm Thế giới nghệ thuật của một nhà văn luôn chứa đựng những quan niệm nhân sinh, xã hội của ngƣời sáng tạo. Một trong những yếu tố cơ bản cấu tạo nên thế giới nghệ thuật của một nhà văn chính là quan niệm nghệ thuật về cuộc sống và con ngƣời của nhà văn. Quan niệm nghệ thuật về con ngƣời là khái niệm trung tâm của thi pháp học, phản ánh một cách sâu sắc và toàn diện bản chất nhân học của văn học. Ở một phƣơng diện nào đó, thuật ngữ này có giá trị tƣơng ứng với khái niệm “tính tƣ tƣởng” trong tác phẩm văn học. Nếu tƣ tƣởng là linh hồn của tác phẩm thì quan niệm nghệ thuật về con ngƣời là 15 cái giới hạn tối đa trong cách hiểu, cách cảm, cách nhìn và cách lý giải về con ngƣời của nhà văn đƣợc hóa thân thành các nguyên tắc, các phƣơng tiện, biện pháp, hình thức thể hiện con ngƣời trong văn học, tạo nên giá trị thẩm mỹ cho các hình tƣợng nhân vật đó. Quan niệm nghệ thuật là “nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và con người vốn có của hình thức nghệ thuật, đảm bảo cho nó khả năng thể hiện đời sống với một chiều sâu nào đó” [25, Quan niệm nghệ thuật về con ngƣời gắn liền với vốn sống, vốn văn hóa, tài năng, cá tính sáng tạo của nhà văn và ý thức hệ của cộng đồng xã hội. Nói ngắn gọn thì quan niệm nghệ thuật về con ngƣời chính là cách cắt nghĩa của văn học về con ngƣời thông qua các phƣơng tiện nghệ thuật đặc thù. Mỗi nhà văn đều có quan niệm nghệ thuật riêng và luôn chịu sự chi phối của các quan niệm đó. Tác phẩm văn học luôn tồn tại trong nó quan niệm nghệ thuật nhất định của nhà văn về cuộc đời và con ngƣời. Những nhà văn có quá trình sáng tác lâu dài qua nhiều thời kỳ khác nhau thƣờng có sự biến đổi trong quan niệm nghệ thuật về con ngƣời, Lê Minh Khuê là một trong số đó. Quan niệm nghệ thuật của Lê Minh Khuê về hiện thực cuộc sống Trong một lần trả lời phỏng vấn, Lê Minh Khuê tâm sự về nghề văn “Tôi quan niệm viết là một nghề cao quý. Nhưng tôi không cho rằng cái mình viết ra là mẫu mực, là quan trọng, là khởi đầu, là tiền đề khai giải cho một trạng huống nào đó… Trước kia, các nhà văn thường có tham vọng viết cho tương lai, viết dưới ánh sáng vĩnh cửu. Nhưng tôi luôn nghĩ rằng tôi chỉ viết cho hôm nay. Nói cách khác, viết được, đứng vững được vào thời điểm đang sống, đã là may mắn lắm rồi” [68, Đó là quan niệm “nghệ thuật vị nhân sinh”, luôn bám sát hiện thực của từng “thời điểm đang sống”, bám sát cuộc sống. Nhƣng bà cũng tâm niệm “khi viết thì mình thoát ly hiện thực” và “không lệ thuộc vào hiện thực” [47]. Điều đó có nghĩa là hiện thực trong tác phẩm một mặt lấy chất liệu từ cuộc sống, mặt
VOV5 - Giải thưởng Thành tựu văn học trọn đời” cho các tác phẩm của nhà văn Lê Minh Khuê vừa được Hội nhà văn Hà Nội quyết định trao tặng trong Giải thưởng năm 2019 của Hội". Nghe âm thanh bài viết tại đây Những tác phẩm đoạt giải Hội nhà văn Hà Nội năm nay, có tiểu thuyết Thị dân của nhà văn Nguyễn Việt Hà; và tập phê bình, tiểu luận Hà Nội từ góc nhìn văn chương của nhà văn Bùi Việt Thắng. Nhà văn Lê Minh Khuê giữa tại Lễ trao giải thưởng của Hội nhà văn Hà Nội. - Ảnh báo Kinh tế đô thị. Từ năm mười sáu tuổi, Lê Minh Khuê đã tham gia vào lực lượng Thanh niên xung phong, bám trụ trên những cung đường ác liệt. Có lẽ bởi vậy mà những tác phẩm đầu tiên của chị đã tập trung khắc họa hình ảnh người phụ nữ trong chiến tranh. Khi những năm tháng bom đạn qua đi, những hậu quả, nỗi đau của chiến tranh vẫn thường trở lại trong các trang viết của chị, bên cạnh những vấn đề của xã hội đương đại. Nhà nghiên cứu phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên nói “Lê Minh Khuê là một trong những cây bút sung sức, nổi bật của văn học Việt Nam, người đã từng có những tác phẩm không phải khuấy động dư luận, mà đã đặt ra những vấn đề buộc chúng ta phải nhìn vào cuộc sống, nhìn vào quá khứ và hiện tại của đất nước, của dân tộc bằng một con mắt tỉnh táo hơn. Viết về cuộc sống hôm nay, nhưng đọc truyện của chị thấy nhiều điều khiến chúng ta không yên ổn được, rất bất an. Ngay cả những truyện chị giữ cho nhân vật không bị hoen ố, chống chọi được, như truyện Nước trong, như truyện Trên đường đê Nếu trong những năm chiến tranh, truyện của Lê Minh Khuê viết về cuộc sống chiến đấu của tuổi trẻ ở tuyến đường Trường Sơn, thì sau năm 1975, tác phẩm của nhà văn bám sát những biến chuyển của đời sống xã hội và con người trên tinh thấn đổi mới. Cổ điển, đằm thắm nhưng không phải vì thế mà kém phần sắc sảo, gai góc, Lê Minh Khuê đã trở thành một trong những cây bút nữ hàng đầu với sở trường truyện ngắn. Nhà văn Tạ Duy Anh nhận định, Lê Minh Khuê là một tay bút lão luyện, tay nghề cao khi khiến người đọc không nhận ra đâu là hư cấu và đời thật “Nhà văn, người cầm bút ở Việt Nam, hầu như tuổi thọ của việc cầm bút hầu như không được dài. Thường thường qua những tác phẩm ban đầu nổi tiếng, sau đó vì rất nhiều lý do, nhưng đa số cứ đuối dần. Nhưng riêng chị Lê Minh Khuê, càng đọc chị thì càng không biết đến bao giờ nhà văn này cạn vốn. Có cảm tưởng là chị còn rất nhiều. Cảm nhận thứ hai là sự lão luyện của một cây bút có một tay nghề rất cao. Nếu đọc một cách tinh tường thì sẽ nhận ra rằng chị đã vượt qua được tất cả những yếu tố hình thức, những cái cần phải trang trí bên bề ngoài để đi thẳng vào cốt lõi của vấn đề. Vì thế không thể nhận ra được những điểm ghép giữa sự hư cấu và những chi tiết đời thật. Và tôi có cảm giác trong khi chúng tôi vẫn cố gắng đi tiểu thuyết hóa hiện thực, thì chị Lê Minh Khuê đã không cần phải làm việc ấy nữa. Bởi vì chị đã tự chắt lọc khi chị nạp những vốn đời sống vào trong thế giới tinh thần của chị” Nhà phê bình Nguyễn Thị Minh Thái nhận xét Lê Minh Khuê đã thấu thị bản chất của chiến tranh, đi xuyên thấu cuộc chiến mà bi kịch để lại trong mỗi gia đình, mỗi con người - điều mà trước đây rất ít nhà văn đề cập tới “Tôi nghĩ đề tài lịch sử của Việt nam, một trong những cái quan trọng nhất là đề tài về cuộc chiến. Chính vì thế cuộc chiến tranh này bất cứ người cầm bút nào cũng phải cảm thấy đấy là một món nợ. Và tôi cho rằng chị Khuê đã xác định món nợ ấy từ khi chị đi thanh niên xung phong. 16 tuổi đã đi thanh niên xung phong rồi. Và chị xác định món nợ chị trả hết một đời. Chính vì thế tôi thấy chị vẫn còn rất nhiều nội lực tiếp theo để nói về vấn đề ấy, để viết về vấn đề ấy làm lay động người đọc. Khuê là một người đàn bà thấu thị, nhìn sự vật, chiến tranh bằng con mắt xuyên thấu. Và ở dưới đó âm ỉ một tấm lòng nồng nhiệt, giống như tro trấu - ở dưới rất nhiều lửa nhưng nó không cất lên một ngọn lửa mà cứ âm ỉ thôi. Và điều đó là thành công nhất của chị Khuê. Và yêu cầu một cách đọc mới.” Là tác giả của những tuyển tập như Những ngôi sao xa xôi, Cao điểm mùa hạ, Đoạn kết, Bi kịch nhỏ, Màu xanh man trá... và từng hai lần đoạt giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam với tập truyện Một chiều xa thành phố và Trong làn gió heo may, Lê Minh Khuê cũng là nhà văn đầu tiên đoạt giải thưởng mang tên văn hào Byeong-ju Lee của Hàn Quốc với tuyển tập "Những ngôi sao, trái đất, dòng sông" năm 2008. Hội đồng giải thưởng này đã nhận định về sáng tác của nữ nhà văn "Tác phẩm thời hậu chiến của bà quan tâm đến hậu quả chiến tranh đối với đất nước mình, những vấn đề sau khi thống nhất đất nước, sự nghèo đói và tình trạng xói mòn văn hóa và tinh thần khi đất nước chuyển đổi sang một xã hội tiêu thụ. Những vấn đề này được thể hiện bằng một văn phong đẹp, chua xót và trang nghiêm”. Nhà văn Lê Minh Khuê chia sẻ “Tôi hay để ý những tình huống ghê gớm trong cuộc sống, để dẫn đến làm thế nào giải quyết một tâm thế của đời sống, làm cho người ta tha thứ nhau, rồi người ta sống hòa bình hơn, và người ta thương yêu nhau hơn. Đấy là ý của tôi.” Lê Minh Khuê đã khéo lựa chọn và đưa vào tác phẩm của mình những lát cắt sắc lẹm, tinh tế về cuộc sống hiện đại. Một cuộc sống dồn nén nhiều bức bối và nỗi đau. Những phận người đi qua tác phẩm của chị, đều để lại những vệt sáng trong tâm thức người đọc.
Bài viết dưới đây là khái quát đôi nét về Tiểu sử cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Lê Minh Khuê. Chúc các bạn có thêm nhiều tài liệu để ôn tập thật tốt. Cùng tham khảo nhé. Mục lục bài viết 1 1. Tiểu sử tóm tắt của Lê Minh Khuê 2 2. Tiểu sử nhà văn Lê Minh Khuê 3 3. Các Giải thưởng 4 4. Quan điểm sáng tác và phong cách nghệ thuật của nhà văn 5 5. Lê Minh Khuê và nỗi khắc khoải về một thời đạn bom Nhà văn Lê Minh Khuê sinh ngày 12 tháng 6 năm 1949 tại Tỉnh Thanh Hóa, nước Việt Nam. Cô sống và làm việc chủ yếu ở Thành phố Hà Nội, nước Việt Nam. Bà sinh thuộc cung Nhân Mã, cầm tinh con trâu Ku Sửu 1949. Lê Minh Khuê xếp hạng nổi tiếng thứ 46694 trên thế giới và thứ 27 trong danh sách Nhà văn nổi tiếng. 2. Tiểu sử nhà văn Lê Minh Khuê Nhà văn Lê Minh Khuê tên khai sinh là Lê Thị Minh Khuê, quê ở Lan Châu, Nông Cống, tỉnh Lê Minh Khuê tên thật là Lê Thị Minh Khuê, sinh năm 1949, quê Thanh Hóa. Bà sinh ra trong một gia đình có truyền thống Nho học, ông nội và ông ngoại đều là nhà Nho nên từ nhỏ bà đã được giáo dục trong một môi trường nề nếp, nề nếp. Cha của nhà văn cũng là một giáo viên trung học. Grave nuôi dưỡng cha mẹ cô từ khi còn nhỏ, cô được nuôi dưỡng bởi gia đình dì ruột của mình, chú và dì của cô đều là giáo viên. Sợi chỉ xuyên suốt tác phẩm của nhà văn là hiện thực cuộc sống của quân và dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến. Nổi bật nhất, nhà văn luôn miêu tả và ca ngợi những người thanh niên ngày đêm chiến đấu trên tuyến đường Trường Sơn rực lửa với lòng yêu nước, ý chí sắt đá và tinh thần lạc quan trong gian khổ. Từ sau 1975, khi đất nước thống nhất, văn học nghệ thuật cũng có những chuyển biến rõ nét từ nội dung đến nghệ thuật. Thay vì những tác phẩm bi tráng với tinh thần bất đồng chính kiến, đề cao sức mạnh dân tộc, văn học sau 1975 có xu hướng tìm về mọi ngóc ngách đời sống cá nhân, những vấn đề cạo râu trong xã hội. Lê Minh Khuê cũng nhanh chóng bắt kịp sự thay đổi của nền văn học nước nhà, từ đó cho ra đời những tác phẩm xuất sắc. Cùng với các nhà văn đương thời như Nguyễn Minh Châu hay Lê Huy Thiệp, bà cũng xứng đáng là một trong những nhà văn tiêu biểu của thời kỳ đổi mới. Ngoài viết văn, Lê Minh Khuê còn viết báo Tiền Phong, phóng viên Đài Phát thanh Giải phóng và Đài Truyền hình Việt Nam, biên tập viên Nhà xuất bản Hội Nhà văn từ năm 1978 cho đến khi nghỉ hưu. Với những đóng góp quý báu trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, bà đã nhận được nhiều giải thưởng quan trọng như Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1987 cho tác phẩm Một chiều xa thành phố, Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2001 cho tác phẩm. Trong Gió heo may, Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2012 và Giải Thành tựu trọn đời về Văn học. Lê Minh Khuê thời trẻ Năm 1965, Lê Minh Khuê tham gia lực lượng Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước. Cô xuất bản những bài báo đầu tiên của mình vào năm 1967, và mãi đến năm 1969 mới bắt đầu viết. Chủ đề chính của thời kỳ chiến tranh trong tác phẩm của cô là cuộc sống của chiến tranh, máu và lửa, nhưng con người gắn kết với nhau bằng sự lạc quan. 3. Các Giải thưởng Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam với tập truyện ngắn “Một chiều xa thành phố” năm 1987. Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam với tập truyện ngắn “Trong làn gió heo may” năm 2000. Năm 2008, giải thưởng văn học mang tên văn hào Byeong-ju Lee của Hàn Quốc. * Các tác phẩm tiêu biểu Tôi đã không quên truyện vừa, Nxb Công An năm 1991, Nxb Hội Nhà văn tái bản 2004 Một chiều xa thành phố tập truyện, Nxb Tác phẩm Mới năm 1986 Bi kịch nhỏ tập truyện, Nxb Hội Nhà Văn năm 1993 Trong làn gió heo may tập truyện, Nxb Văn Học năm 1999. Những dòng sông, buổi chiều, cơn mưa tập truyện, Nxb Phụ Nữ năm 2002; Những ngôi sao, Trái đất, dòng sông tập truyện, Nxb Phụ Nữ, năm 2008 The Stars, The Earth, The River tập truyện, Nxb Cubstone Press, Mỹ, năm 1996 Fragile come un raggio di sole tập truyện, Nxb O barra O, Italia, năm 2010 Màu xanh man trá tập truyện, Nxb Phụ Nữ năm 2003; Đoạn kết tập truyện, Nxb Phụ Nữ năm 1982 Một mình qua đường tập truyện, Nxb Hội Nhà Văn năm 2006; Những ngôi sao xa xôi tập truyện, Nxb Kim Đồng năm 1973, tái bản 2006 Nhiệt đới gió mùa tập truyện, Nxb Hội Nhà Văn năm 2012 Cao điểm mùa hạ tập truyện, Nxb Quân đội năm 1978 Lê Minh Khuê truyện ngắn tập truyện, Nxb Văn Học năm 1994 Monsunens sista regn tập truyện, Nxb Tranan, Thụy Điển, năm 2008 Kleine Tragödien tập truyện, Nxb Mitteldeutscher, Đức, năm 2011 4. Quan điểm sáng tác và phong cách nghệ thuật của nhà văn Nhà văn Lê Minh Khuê đến với văn chương từ sớm và suốt những năm tháng cuộc đời, bà luôn khinh khỉnh ghi lại mọi biến động trong cuộc sống, gửi gắm những thông điệp giản dị qua trang bìa sáng tác của mình. Đối với nhà văn, viết là bộc lộ những tâm tư, tình cảm dội về trong tâm hồn, đề cập đến bao trăn trở trong tâm trí. “Nhà văn thế hệ trước viết dưới một ánh sáng vĩnh cửu. Họ nghĩ đến một sự khẳng định, một vị trí tất yếu trong tương lai. Còn mình, chỉ viết cho giây phút này, cho ngày hôm nay. Viết cũng như là sống vậy. Biết ngày mai người ta có đọc mình hay không ? Nhà văn trước kia có thể viết rồi cất vào ngăn kéo và hy vọng giá trị của nó trong tương lai. Còn mình viết ra, chỉ mong có bạn bè thân thiết, con mình đọc, tại thời điểm này, là thắng rồi. Làm sao bắt số đông phải quan tâm đến mình được?” Lê Minh Khuê Theo nhà văn, công việc sáng tác bắt nguồn từ nhu cầu tự thân, khi tác giả mang trong mình khát vọng thể hiện những nấc thang động trong cuộc sống mà họ quan sát được. Không chỉ vậy, Lê Minh Khuê còn nhận định, văn chương còn là sự sáng tạo không ngừng nghỉ của mỗi cá nhân, mang dấu ấn riêng của nhà văn. Lê Minh Khuê Đến với các tác phẩm của Lê Minh Khuê, người đọc không chỉ được khám phá một thế giới nghệ thuật phong phú, độc đáo mà còn được nhìn thấy chính mình trong những chi tiết nhỏ mà nhà văn dày công sáng tạo. Một nhà văn chân chính phải đặt con người vào nhiều tình huống khác nhau, từ đó khám phá ra những điều sâu kín trong tâm hồn mỗi người. Quan trọng nhất, là văn chương cần làm rõ mối quan hệ giữa người với người, tìm ra cái tốt, cái xấu, cái nhỏ mọn trong mỗi cá nhân, từ đó hướng người đọc đến những giá trị trong sáng. hơn. Chính nhà văn Lê Minh Khuê cũng đơn giản và tiếc nuối khi cho rằng bức tranh cuộc sống trong các tác phẩm của mình chỉ đơn giản là tái hiện cuộc sống của những con người gần gũi. Tuy nhiên, nhà văn luôn cố gắng phát huy những ước mơ đáng quý trong chương trình viết cho con người và dựa trên mối quan hệ giữa con người với con người. “Tôi muốn người đọc đọc tác phẩm của mình thấy được trong cái hiện thực trần trụi vẫn có hơi hướng lãng mạn. Và đâu đó vẫn tồn tại những tính cách nguyên thủy nhất để con người không bị đẩy lùi về phía bóng tối.” Lê Minh Khuê Đọc truyện ngắn của Lê Minh Khuê, dù dữ dội, gai góc đến đâu, người đọc vẫn cảm nhận được sự nữ tính, nhẹ nhàng trong mỗi tác phẩm, một dấu ấn đã làm nên tuổi tác của nhà văn. Ở những tác phẩm viết về chiến tranh, ta có thể thấy một trái tim dịu dàng, nhân hậu, nhạy cảm của người phụ nữ qua từng câu chữ. Lê Minh Khuê không nhìn chiến tranh một cách thô thiển, trần trụi mà với nhà văn, chiến tranh là cái nền làm lung lay thêm những sản phẩm quý giá, những tình cảm thiêng liêng của con người. Với lối viết nhẹ nhàng nhưng khắc khoải, những dòng văn của Lê Minh Khuê giản dị, nhưng chất chứa trong đó biết bao ân tình cao đẹp. 5. Lê Minh Khuê và nỗi khắc khoải về một thời đạn bom Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhà văn Lê Minh Khuê đã thực hiện sứ mệnh của một nhà văn một cách không mệt mỏi, miệt mài phản ánh hiện thực gian khổ của cuộc chiến tranh thế giới và không tiếc lời bộc lộ tấm lòng yêu nước trung thành. Trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, chiến tranh trong tâm trí nhà văn Lê Minh Khuê là những ký ức không thể nào quên, một nơi gắn liền với bao kỉ niệm mờ nhạt mà vẫn đẹp đẽ. Sớm tham gia vào cuộc chiến, cô gái chưa tròn đôi mươi đã gói ghém đủ tình yêu thương và sự ngây thơ vào dòng viết của mình, dù khốc liệt và đau thương đến đâu. May mắn thay, những năm tháng tuổi trẻ cũng là chủ đề thường xuyên xuất hiện trong các tác phẩm của Lê Minh Khuê, khi những người trẻ tạm gác lại tình yêu sau lưng, chỉ để hết lòng hy sinh cho Tổ quốc. Tuy nhiên, trong huyết quản của các em vẫn tràn đầy sự lạc quan, hồn nhiên, hóm hỉnh xen lẫn với lòng yêu nước bất diệt.
Post Views LÊ MINH KHUÊ 6 tháng 12 năm 1949 – … là nhà văn nữ Việt Nam chuyên viết truyện ngắn và truyện vừa. Tiểu sử LÊ MINH KHUÊ, sinh ngày 6 tháng 12 năm 1949 tại quê ngoại Lan Châu, Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa. Quê nội bà ở phường Hải An, thị xã Nghi Sơn, Thanh Hóa. Ông nội và ông ngoại bà là nhà nho, cha là thầy giáo dạy trung học. Cha mẹ mất sớm, bà lớn lên trong gia đình dì ruột, chú và dì đều là giáo viên trung học. Năm 1965, LÊ MINH KHUÊ tham gia lực lượng Thanh niên xung phong chống Mỹ. Năm 1967 bà có những bài báo đầu tiên và năm 1969 bắt đầu viết văn. Đề tài chính của thời kỳ chiến tranh trong sáng tác của bà là đời sống cuộc chiến, máu lửa nhưng con người được tinh thần lạc quan liên kết. Truyện của bà thay đổi đề tài từ những năm 1984 vì theo bà, người Việt Nam thay đổi ngay từ năm 1975 khi hết chiến tranh, do đó không còn viết như cũ. LÊ MINH KHUÊ chuyên viết truyện ngắn và truyện vừa. Truyện của bà được dịch và xuất bản tại các nước Hoa Kỳ, Đức, Thụy Điển, Italia và Hàn Quốc. Bên cạnh việc viết văn, LÊ MINH KHUÊ từng là phóng viên Báo Tiền phong, phóng viên Đài Phát thanh Giải phóng đi B, về Đà Nẵng năm 1975 cùng đơn vị quân đội, phóng viên Đài Truyền hình Việt Nam, biên tập viên Nhà xuất bản Hội Nhà văn từ 1978 đến khi nghỉ hưu. Bà có tên trong Từ điển Tiểu sử Văn học Dictionary of Literary Biography phần Southeast Asian Writers các nhà văn Đông Nam Á cùng với 5 nhà văn Việt Tác phẩm Truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi viết năm 1971, in trên tạp chí “Tác phẩm mới” cùng năm đó, đã được đưa vào sách giáo khoa Ngữ văn lớp 9 tập 2. Truyện ngắn này cũng được in trong tuyển tập The Art of the Short Story của Nhà xuất bản Wadsworth, Hoa Kỳ, bên cạnh tác phẩm của nhiều tác giả nổi tiếng thế Tác phẩm chính đã xuất bản Những ngôi sao xa xôi tập truyện, Nhà xuất bản Kim Đồng 1973, tái bản có bổ sung 2006; Cao điểm mùa hạ tập truyện, Nhà xuất bản Quân đội 1978; Đoạn kết tập truyện, Nhà xuất bản Phụ Nữ 1982; Một chiều xa thành phố tập truyện, Nhà xuất bản Tác phẩm Mới 1986; Tôi đã không quên truyện vừa, Nhà xuất bản Công An 1991, tái bản tại Nhà xuất bản Hội Nhà văn 2004; Bi kịch nhỏ tập truyện, Nhà xuất bản Hội Nhà Văn 1993; Lê Minh Khuê truyện ngắn tập truyện, Nhà xuất bản Văn Học 1994; Trong làn gió heo may tập truyện, Nhà xuất bản Văn Học 1999; Màu xanh man trá tập truyện, Nhà xuất bản Phụ Nữ 2003; Những dòng sông, buổi chiều, cơn mưa tập truyện, Nhà xuất bản Phụ Nữ 2002; Một mình qua đường tập truyện, Nhà xuất bản Hội Nhà Văn 2006; Những ngôi sao, Trái đất, dòng sông tập truyện, Nhà xuất bản Phụ Nữ, 2008; Nhiệt đới gió mùa tập truyện, Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, 2012; The Stars, The Earth, The River tập truyện, Nhà xuất bản Cubstone Press, Mỹ, 19963; Monsunens sista regn tập truyện, Nhà xuất bản Tranan, Thụy Điển, 20084; Fragile come un raggio di sole tập truyện, Nhà xuất bản O barra O, Italia, 20105; Kleine Tragödien tập truyện, Nhà xuất bản Mitteldeutscher, Đức, 20116; Làn gió chảy qua tập truyện, Nhà xuất bản Trẻ, 2016. Giải thưởng Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1987 tập truyện ngắn Một chiều xa thành phố; Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2000 tập truyện ngắn Trong làn gió heo may; Giải thưởng văn học mang tên văn hào Byeong-ju Lee của Hàn Quốc, năm 20087; Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2012. Đánh giá “Dù xảy ra trong quá khứ hay hiện tại, những truyện ngắn sắc sảo, đôi lúc buồn cô quạnh trong tập truyện của LÊ MINH KHUÊ đều chịu ảnh hưởng sâu đậm của chiến tranh và sự xâm lǎng. Tập truyện này quan tâm tới tình yêu và sự đói nghèo, lòng tham và ngờ vực, phẩm giá và cái chết- và hậu quả dai dẳng của cuộc chiến tới những ai may mắn sống sót. Qua bản dịch, tác giả đã hiện ra, một người có vǎn phong đẹp, nghiêm trang cùng với sự châm biếm tinh tường, đồng thời có khả nǎng trong những nhận xét đầy khơi gợi…” New York Times số ra thứ Bảy, 21/10/1995 “LÊ MINH KHUÊ khéo viết đối thoại. Gọn gàng, chắc chắn, hiếm khi thừa lời và có ấn tượng. Những đối thoại chính xác, chứa đầy thông tin và ngổn ngang tâm lý. Xin hãy lưu ý giọng người bạn đồng nghiệp của Mi, điềm đạm, thấu hiểu và đầy kiềm chế. truyện ngắn Cơn mưa cuối mùa. Đấy là giọng của Lê Minh Khuê, xuyên suốt qua những tác phẩm của chị. Đấy cũng là giọng thực của chị, ở giữa đời.” Nhà văn HỒ ANH THÁI “Cảm hứng thế sự chi phối chặt chẽ đến hệ thống hình tượng trong tác phẩm của LÊ MINH KHUÊ. Nổi bật và xuyên suốt trong truyện ngắn của tác giả là hình tượng con người bế tắc và bất lực. Họ ý thức sâu sắc về cái cuộc sống tồi tệ đang phải chịu đựng nhưng không có cách gì thoát ra được. Đau đớn bởi sự tối tăm, cùn mòn, khát khao được thay đổi, nhưng họ biết rõ hơn ai hết về sự bất lực, vô vọng của chính mình. Nhà văn thường bắt đầu vấn đề từ những tình huống đời sống rất đỗi bình thường, với một lối kể, tả khá tự nhiên, nhuần nhị… … Không ngần ngại “thọc tay” vào những góc cạnh dữ dằn, gai góc của đời sống, kêu gọi sự tỉnh táo nhận thức, nhìn thẳng sự thật, bóc trần ảo tưởng, LÊ MINH KHUÊ đã đặt ra một cách trực diện nhiều vấn đề thiết cốt của đời sống đương đại. Nhiều truyện ngắn của tác giả này hấp dẫn người đọc bởi tính thời sự của những vấn đề xã hội đặt ra, sự tinh tế trong việc diễn tả tâm lý, cái nhìn hài hước mà chua xót về các trạng huống đời sống, sự sinh động của những chi tiết mô tả…” LÊ HỒ QUANG – Giảng viên Khoa Văn, Đại học Vinh “Độc giả Mỹ của ngày hôm nay đã đến mức đòi hỏi tính ẩn dụ tinh tế. LÊ MINH KHUÊ thực sự làm chủ được phép so sánh chính xác. Dưới ngòi bút của bà, lối so sánh đặc biệt mang tính giản dị… Từng truyện ngắn khuấy động để người đọc nghĩ ngợi xa hơn, đưa con người đến một tương lai mà nhà văn hàm ý hơn là nói trực diện.” Báo Tin Sáng Dallas CHÚ THÍCH1 “Nhà văn Việt Nam góp mặt trong Từ điển Tiểu sử Văn học” – “The Art of the Short Story” – “The Stars, The Earth, The River Short Stories by Le Minh Khue” – “Cuộc “hội ngộ” của thơ Thụy Điển và văn xuôi VN” – 5 “Fragile come un raggio di sole” – “Le Minh Khue Kleine Tragödien” – 7 HÀ LINH, “Lê Minh Khuê đoạt giải thưởng văn học quốc tế” – VnExpress. GHI CHÚ◊ Nguồn Bách khoa Toàn thư mở – Các chữ nghiêng, chữ đậm, chữ màu do Ban Tu Thư – thiết lập. Visited 137 times, 1 visits today
các tác phẩm của lê minh khuê